Thursday, July 28, 2005

Trung tâm dữ liệu của tương lai

Trung tâm dữ liệu chiếm hơn nửa ngân sách mà các doanh nghiệp hoặc tổ chức dành cho CNTT. Nhóm nghiên cứu META dự đoán rằng tổng chi phí thiết lập một trung tâm xử lý dữ liệu sẽ tăng tới 70% trong thập kỷ tới. Vấn đề là sự tăng ngân sách này sẽ có những thay đổi trong cơ cấu phân bổ, đặc biệt trong vòng vài năm tới.

Trung tâm dữ liệu chiếm hơn nửa ngân sách mà các doanh nghiệp hoặc tổ chức dành cho CNTT. Nhóm nghiên cứu META dự đoán rằng tổng chi phí thiết lập một trung tâm xử lý dữ liệu sẽ tăng tới 70% trong thập kỷ tới. Vấn đề là sự tăng ngân sách này sẽ có những thay đổi trong cơ cấu phân bổ, đặc biệt trong vòng vài năm tới. Theo thống kê, trong năm 2002, các khoản chi phí đầu tư cho máy chủ và hệ thống lưu trữ chiếm tới 20% tổng ngân sách thì tới năm 2012, các chi phí này sẽ giảm xuống rõ rệt cả về giá trị tương đối lẫn giá trị tuyệt đối. Trong khi đó, đầu tư dành cho phần mềm được dự đoán là sẽ tăng hơn gấp đôi cũng trong giai đoạn này.

Trên thực tế, vẫn còn những vấn đề khác. Việc tận dụng khai thác các trung tâm dữ liệu vẫn còn ở mức thấp, và chi phí tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới các khoản ngân sách khác dành cho các dự án CNTT. Tuy nhiên, một vài xu hướng công nghệ hiện tại sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tăng hiệu suất của trung tâm dữ liệu trong khi bạn vẫn có khả năng kiểm soát ngân sách.

Sự vươn lên của Linux

Trong khi Unix vẫn giữ được vị thế của mình, Linux đang vươn lên trở thành hệ điều hành được lựa chọn cho các trung tâm dữ liệu.

Ông Ted Schadler, một nhà phân tích của Forrester Research, đánh giá: “Trong năm 2004, việc sử dụng Linux sẽ bùng nổ trong thị trường trung tâm xử lý dữ liệu”.

Điều này một phần xuất phát từ giá thành hợp lý của bản thân hệ điều hành này, tuy nhiên, đó không phải là nhân tố duy nhất, đặc biệt khi mà chi phí dành cho các hệ điều hành không chiếm tỷ lệ lớn trong tổng ngân sách CNTT. Trên thực tế, hầu hết các công ty sẵn sàng đặt hàng Linux để nhận được sự hỗ trợ tốt đối với phiên bản dành cho doanh nghiệp. Theo Nhóm nghiên cứu Gartner, thị phần của Linux sẽ tăng lên đạt 9 tỷ USD vào năm 2007.

Bên cạnh yếu tố giá cả, Linux cung cấp kèm theo một lượng lớn các ứng dụng cho khách hàng lựa chọn. Linux có thể chạy trên hệ thống IBM z90 cho tới điện thoại di động. Nó có thể tương thích với các máy chủ web cấp thấp cũng như các hệ thống cỡ trung bình. Linux cũng dễ dàng được áp dụng trên các máy xách tay và máy trạm và cũng là hệ điều hành được lựa chọn cho các hệ thống cluster - hệ thống hiện chiếm 40% trong số 500 siêu máy tính trên toàn thế giới. Cho tới nay, không một hệ điều hành nào có khả năng đáp ứng rộng như Linux. Điều đó cũng đồng nghĩa rằng với việc chuẩn hoá các ứng dụng trên nền Linux, một doanh nghiệp hoặc tổ chức có thể tiết kiệm rất nhiều tác vụ cần thiết đối với trung tâm xử lý dữ liệu.

Các máy chủ cỡ nhỏ

Đã có một thời các siêu máy chủ “khổng lồ và nặng nề” độc chiếm các trung tâm xử lý dữ liệu. Giờ đây, bên cạnh các máy chủ cỡ lớn như IBM zSeries và HP Superdome, một xu hướng đang dần nổi lên là việc sử dụng thay thế bằng các máy chủ cỡ nhỏ, trong đó chủ yếu là hệ thống máy chủ đa lớp. Mặc dù mới chỉ xuất hiện trên thị trường một thời gian khá ngắn, những máy chủ nhỏ này đã tạo ra những bước đột phá với doanh số 100 triệu USD trong năm 2003 và sẽ đạt 3,7 tỷ USD trong năm 2006 (dự đoán của IDC).

Các máy chủ cỡ nhỏ cung cấp một giải pháp ổn định cho các công ty với mức chi phí thấp. Người ta nhận thấy rằng sẽ dễ dàng khi sử dụng kết hợp một vài máy chủ loại này cho một ứng dụng nhất định hơn là “thắt lưng buộc bụng” mua một máy chủ cỡ lớn và sau đó không khai thác tối đa khả năng của nó. Việc sử dụng kết hợp các máy chủ nhỏ tích hợp sẽ giảm thiểu chi phí dành cho việc xây dựng một hệ thống lưu trữ cùng một lượng không nhỏ cáp kết nối và hệ thống làm mát. Và một điểm ưu việt khác đặc biệt quan trọng là khả năng tương hỗ. Khi một trong số các máy chủ đơn vị gặp sự cố, hệ thống sẽ dễ dàng được chuyển đổi và tự động điều chỉnh

Một trong những yếu tố đóng góp quan trọng vào sự phát triển của máy chủ loại nhỏ chính là Linux. Đây là một hệ điều hành gọn nhẹ không đòi hỏi quá nhiều dung lượng đĩa cứng cũng như năng lực của bộ vi xử lý, do đó nó thực sự lý tưởng đối với các máy chủ cỡ nhỏ.

Công nghệ ảo hoá

Virtualization - Công nghệ của IBM, là công nghệ tổng hợp phần cứng và phần mềm, cho phép các doanh nghiệp có thể chạy 10 máy chủ ảo trên một bộ vi xử lý đơn. Đây là một công nghệ phần mềm cho phép nhiều hệ điều hành có thể chạy trên cùng một bộ xử lý tại một thời điểm. Khả năng này cho phép các tổ chức CNTT có thể di dời và hợp nhất các ứng dụng, từ các hệ điều hành kế thừa cho tới phần cứng hiện tại và các nền tảng phần mềm, do đó đảm bảo sự chuẩn hoá và khả năng hỗ trợ.

Việc ứng dụng các đặc tính ảo sẽ đưa tất cả các nguồn tài nguyên điện toán vào một giao diện đồng nhất, tại đó chúng lại được thể hiện như một hệ thống đơn lẻ. Điều này sẽ giải quyết được hai vấn đề lớn đối với trung tâm dữ liệu. Thứ nhất, nó làm giảm thời gian cần thiết cho việc định cấu hình và gán các nguồn tài nguyên bởi các phần mềm có khả năng tự động phân tải tới các máy chủ thích hợp nhất. Điều này sẽ thay thế cho việc người quản trị phải tự thiết lập cấu hình các dịch vụ trên từng phần cứng riêng. Lúc này, mỗi ứng dụng sẽ được gán cho máy chủ riêng của nó và một máy chủ thứ hai sẽ hoạt động như một máy chủ dự phòng hoặc phát triển ứng dụng. Nếu không có công nghệ ảo, hai máy chủ sẽ thường cần dư công suất để có thể quản lý luồng dữ liệu cực đại tiên liệu trước. Trong khi đó, với công nghệ này, việc dự phòng dư công suất sẽ được giảm thiểu bởi toàn bộ các máy chủ hoạt động đều được coi như một hệ thống duy nhất.

Các chuẩn công nghệ mới

Cuối cùng, trung tâm dữ liệu trong tương lai sẽ dựa trên các tiêu chuẩn chung nhằm đảm bảo tối đa khả năng liên kết và giảm thiểu chi phí quản lý. Hiện tại đang tồn tại hai hệ thống cạnh tranh.

Một trong số đó là ngôn ngữ đánh dấu trung tâm dữ liệu (Data center markup language - DCML). DCML là một biến thể dựa trên ngôn ngữ XML cho phép cung cấp một mô hình cấu trúc và mã hoá nhằm mô tả, xây dựng, nhân bản và phục hồi môi trường dữ liệu và các nhân tố cấu thành. Đây là một chuẩn công nghệ do EDS và Opsware khởi xướng vào giữa tháng 10/2003. Sáu tuần sau, Tổ chức DCML đã thiết lập một website (www.dcml.org) với hơn 50 thành viên. Và vào cuối năm nay, tổ chức này có kế hoạch giới thiệu phiên bản 1.0 nhằm thu hút sự kiểm nghiệm và đánh giá của người dùng. Ngoài ra, họ sẽ đăng ký ngôn ngữ này với các tổ chức tiêu chuẩn hoá như DMTF (Distributed Management Task Force) để phê chuẩn.

Trong khi đó, Microsoft cũng đưa ra biến thể ngôn ngữ XML của riêng mình với tên gọi Mô hình định nghĩa hệ thống (SDM). Hồi tháng năm năm ngoái, tập đoàn này đã phối hợp với HP giới thiệu SDM. SDM hỗ trợ việc tự động cấu hình các máy chủ và các ứng dụng trên nền Windows.

Tổ chức DCML cho rằng chuẩn công nghệ của họ sẽ hỗ trợ các dữ liệu SDM với mục đích coi các máy chủ chạy trên nền Windows là một phần trong môi trường các hệ điều hành không đồng nhất. Tuy nhiên, Microsoft không phải là một thành viên của DCML. Một số nhà sản xuất phần cứng lớn như Dell, IBM, Hitachi và HP cũng chưa trở thành thành viên của DCML. Trong khi đó, DCML thu hút được sự gia nhập của Hiệp hội Máy tính, BEA, BMC và nhiều hãng phần mềm danh tiếng khác.

Tóm lại, có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của trung tâm xử lý dữ liệu. Nhìn từ góc độ người quản lý, điều này sẽ mang tới những gì? Đó là sự thay đổi về quan điểm công việc, nên phải tập trung nhiều hơn vào việc cung cấp các dịch vụ thay vì phải quan tâm tới các vấn đề kỹ thuật liên quan tới hệ thống xử lý dữ liệu. Bởi vì các thiết bị và ứng dụng người dùng đều cắm-và-chạy, bạn sẽ chỉ phải tìm kiếm các phần cứng và phần mềm có khả năng tự cấu hình mà thôi.

Ngoài sự kiện SCO, chắc chắn rằng ngày càng nhiều hệ thống sẽ chạy trên nền Linux. Các hệ thống tự quản trị sẽ dễ dàng khắc phục được các lỗi phần cứng và phần mềm mà không cần tới sự can thiệp của con người. Các tiêu chuẩn mở sẽ làm cho các trục trặc liên quan tới liên kết hệ thống trở thành vấn đề của quá khứ. Chi phí phần cứng của một hệ thống trung tâm dữ liệu sẽ giảm thiểu. Và điều quan trọng nhất, mặc dù trung tâm dữ liệu bản thân nó không thể tự hoạt động, thế nhưng với bạn, việc quản lý sẽ trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.

Minh Long

AN WANG: Hạt nhân của kỷ nguyên máy tính

A i cũng biết rằng nhiều nhà khoa học di cư từ châu Âu, lục địa hoang tàn sau chiến tranh, đã giúp xây dựng một nước Mỹ sau chiến tranh thế giới 2 thông qua những phát minh và khám phá của họ. Nhưng có một người Trung Quốc đã thoát ra từ đống tro tàn của cuộc chiến ở Thượng Hải để tạo ra một bước đột phá trong thế giới vi tính và đã xây dựng một công ty vững chắc ở Mỹ. Đó là An Wang – một người châu á đã trở thành huyền thoại công nghệ của nước Mỹ.

An Wang đã phát minh ra bộ nhớ máy tính, thành lập Wang Laboratories, và trở nên nổi tiếng như một trong những nhân tài đức độ vĩ đại nhất ở thành phố. Đầu những năm 1980, hơn 80% trong số .000 công ty lớn nhất ở Mỹ có sử dụng các thiết bị văn phòng của Wang, còn năm 1984, lợi nhuận của Wang Laboratories đạt tới 210 triệu USD trong tổng doanh thu trị giá 2,2 tỷUSD.

Wang sinh ra tại Thượng Hải ngày 7/2/1920. Ông và 4 người anh em khác may mắn được thừa hưởng vốn tiếng Anh quý giá từ người cha của mình, một thầy giáo dạy ngoại ngữ ở một trường tiểu học tư thục ở địa phương. Nhưng ngoại ngữ không phải là lĩnh vực mà chàng trai trẻ Wang thực sự vượt trội như đối với toán và các môn khoa học tự nhiên.

Theo đuổi những xung động

Ở tuổi 16, ông bắt đầu theo học tại trường đại học Chiao Tung Thượng Hải (được gọi là MIT của Trung Quốc), khoa kỹ thuật điện tử. Nhưng chỉ một năm sau, Nhật Bản xâm lược Trung Quốc. Wang mất cả cha mẹ và một người em gái khi Nhật đánh bom Thượng Hải ngày này qua ngày khác.Gần như bị san phẳng, thành phố bị rơi vào tay quân địch vào tháng 11/ 1937.

Trong khi rất nhiều trong số các sinh viên và đồng nghiệp cùng quê tràn sang Hồng Kông (sau này trở thành động lực đằng sau sự vươn lên đầy sức sống của nền kinh tếtại đây) thì Wang vẫn tiếp tục việc nghiên cứu ở thành phố Thượng Hải đã bị chiếm đóng. Rồi khi cuộc chiến kết thúc, ông rời Trung Quốc để theo đuổi tấm bằng Tiến sĩ khoa học về vật lý ứng dụng ở đại học Harvard.

Được tập trung hoàn toàn cho việc nghiên cứu tại Harvard, Wang không những kiếm được tấm bằng trong vòng 3 năm mà còn bắt đầu thí nghiệm bằng nhiều cách khác nhau về công trình điều chỉnh xung điện từ, công trình mà giới khoa học phỏng đoán là chìa khóa cho việc tạo nên những chiếc máy có khả năng “nhớ” dữ liệu trong những khoảnh khắc chỉ 1 phần nghìn giây.

Những giá trị nho giáo

Năm 1948, Wang công bố phát minh về trung tâm bộ nhớ, và ông muốn trường đại học Havard tài trợ để phát triển cao hơn công trình với việcmờihọ tham gia đăng ký bản quyền với mình. Theo chính sách của trường vào thời điểm đó, Harvard đã từ chối tham gia, vì vậy vào năm 1954 Wang nhận được giấy phép bản quyền cho riêng mình. Cùng lúc đó, ông đã bắt đầu lập nên công ty chỉ có một người, trong một căn gác thuê trên một gara ôtô ở cực Nam Boston. Wang Laboratories thu nhập được 15.000 USD trong năm đầu tiên đó, còn trong 33 năm sau, công ty tăng trưởng với tốc độ trung bình 40% mỗi năm.

Khi công ty đã mở rộng, Wang - thường bị chế giễu là giữ nguyên kiểu kinh doanh đặc sệt kiểu Trung Quốc – đã có lần nói rằng động lực của ông là muốn chứng tỏ rằng “người Trung Quốc có thể thành công ở nhiều lĩnh vực khác ngoài các tiệm giặt là”. Tuy nhiên, trong cuốn hồi ký “Những bài học” năm 1986, ông cho rằng có được thành công một phần là do biết dựa vào các giá trị của Nho giáo: sự cân bằng, điều độ và sự đơn giản.

Wang lại làm chủ công ty theo đúng kiểu Trung Hoa, khi đảm bảo cho gia đình mình tới 75% cổ phần của công ty trong những năm 1980.

Lỡ chuyến tàu PC

Năm 1964, Wang Laboratories trình làng một máy tính điện tử để bàn và bắt đầu nghiên cứu hệ thống xử lý văn bản để phục vụ công việc. Vào giữa những năm 1970, dường như hầu hết các văn phòng đều có sử dụng bộ xử lý văn bản thông dụng của Wang.

Đến cuối thập kỷ đó, Wang đưa ra 2 quyết định mà vì đó công ty sau này không phát triển được: ông quyết định tập trung vào phần cứng thay vì phần mềm. Và trong lĩnh vực phần cứng, ông lại chọn tập trung vào bộ xử lý văn bản và máy tính mini (loại máy tính được thiết kế chỉ để kết nối các máy tính thành hệ thống) thay vì máy tính cá nhân (PC).

Khi cuộc cách mạng PC bùng nổ, lợi nhuận của Wang Laboratories giảm xuống nghiêm trọng. Rồi vào cuối năm 1986, khi Wang chuẩn bị nghỉ hưu, Ban lãnh đạo Wang Laboratories thông báo rằng người con trai 36 tuổi của là Frederick, sẽ trở thành chủ tịch công ty. Đó lại trở thành một sai lầm lớn nữa.

Độ lượng tới cùng

Wang Laboratories mất hàng triệu đôla trong 2 năm tiếp theo khi họ tỏ ra chậm chạp trong việc đưa ra những sản phẩm mới, lâm vào các khoản nợ lớn, và rồi – khi họ cuối cùng cũng đưa ra được một máy tính để bàn – thì đã không còn kịp cạnh tranh nổi vớimáy tính cá nhân của IBM. Máy tính của Wang chìm đi, và ông phải đưa ra quyết định khó khăn là sa thải con trai của mình.

Bất chấp tài sản công ty sa sút nghiêm trọng và căn bệnh ung thư thực quản liên tục hoành hành để rồi cuối cùng dẫn đến cái chết vào ngày 24/3/1990, An Wang vẫn không ngừng hướng về với trường đại học và thành phố mà ông cho là mình mắc nợ rất nhiều. Ông đã hiến tặng hàng triệu đôla cho Harvard và nhiều tổ chức văn hóa và dân sự ở

Trong khi Wang Laboratories phải chật vật hàng năm trời trước khi ngoi lên trở lại trong những năm đầu thập kỷ 90 với tư cách là một hãng tư vấn phần mềm thì huyền thoại về An Wang vẫn không hề suy suyển. Giống như nhiều người dân nhập cư khác, ông thoát ra từ nỗi kinh hoàng của chiến tranh và đã đóng góp tài năng của mình để xây dựng nên một nước Mỹ thịnh vượng như ngày nay.

Hồng Quý

Phần mềm nguồn mở ở Việt Nam: mới chỉ là khởi động

Phần mềm nguồn mở ở Việt Nam: mới chỉ là khởi động

VNPT, 15.7.2005 - Phần mềm mã nguồn mở được hình thành và phát triển mạnh từ năm 1991, sau khi hệ điều hành nguồn mở Linux ra đời. Qua một thời gian nghiên cứu, thử nghiệm, giá trị của Linux nói riêng và các phần mềm nguồn mở nói chung đã được khẳng định. Hiện, phần mềm nguồn mở trở nên phổ biến hơn trên toàn thế giới với nhiều phát triển đáng nể.

Trên thế giới, PMNM đã có nhiều thành công

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia CNTT, trong những năm gần đây phần mềm nguồn mở (PMNM) đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể. Hiện đã có tới hơn 90 chính phủ các nước trên thế giới có chính sách liên quan tới PMNM. PMNM được ứng dụng trong phát triển Chính phủ điện tử tại các nước Đức, Brazil, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản...

Nhiều tập đoàn CNTT, các hãng lớn như IBM, Sun, Intel, HP và Oracle cũng đã tham gia phát triển hoặc cam kết hỗ trợ nguồn mở.

Ngoài Linux, một "đại diện" điển hình của PMNM thì các PMNM khác như My SQL, Apache cũng được đánh giá rất cao (chiếm 60% thị trường web server). PMNM còn được biết đến với 60 ngàn dự án khác nhau, tập trung vào nhiều lĩnh vực như cơ sở dữ liệu, truyền thông, game, Internet...

Sự phát triển ngày càng mạnh của PMNM đang thực sự khiến nhiều hãng phần mềm lớn trên thế giới lo ngại. Ngay cả Microsoft, hãng phần mềm số một thế giới cũng đang học cách "sống chung" với Linux. Những cuộc hội đàm như "Selling Against Competitive Platforms" (Doanh số vượt qua những phần nền cạnh tranh) và "Winning in the mid-market vs. Linux" (Giành phần thắng trên thị trường tầm trung với Linux) của Microsoft thừa nhận Linux đã nổi lên như là một đối thủ chính trên thị trường. Steve Ballmer, Giám đốc điều hành Microsoft khẳng định, hãng này sẽ cạnh tranh với PMNM về sản phẩm. Trong Hội thảo đối tác toàn cầu diễn ra bang Minnesota (Mỹ) mới đây, Microsoft đã có nhiều cuộc họp liên quan tới Linux và đề cập đến những biện pháp nhằm cạnh tranh với nguồn mở. Trong một vài tháng qua, Microsoft cũng đã có những tín hiệu bắt tay với sản phẩm mã mở như khách hàng của Microsoft sẽ có thể kiểm soát server của Linux với phần mềm quản lý Microsoft, hay có khả năng chạy Linux và Windows trên cùng một hệ thống.

Còn Bob Hayward, Phó chủ tịch Gartner châu á -Thái Bình Dương cho biết, 10 - 15 năm trước, 80 - 90% lợi nhuận của các công ty phần mềm lớn thu được từ việc bán bản quyền phần mềm, ngày nay con số này giảm xuống chỉ còn có 50% vì đã có một số lượng lớn các phần mềm mã nguồn mở được phát triển.

Với CNTT Việt Nam, PMNM là cơ hội tốt

Đó là nhận định của ông Nguyễn Trung Quỳnh, Giám đốc Ban quản lý Dự án phần mềm nguồn mở, Bộ Khoa học Công nghệ, tại Hội thảo - Triển lãm Toàn cảnh CNTT Việt Nam 2005- Vietnam Computerworld Expo 2005. Ông Quỳnh cũng cho rằng Việt Nam đã hội tụ được một số điều kiện để đảm bảo khai thác tốt PMNM.

Việc Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 235 về việc chấp nhận Dự án Tổng thể ứng dụng và phát triển PMNM ở Việt Nam giai đoạn 2004 - 2008 cách đây hơn một năm được xem là điều kiện pháp lý thuận lợi đầu tiên. Điều này cho thấy Việt Nam coi đây là một hướng đi quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền CNTT nước nhà.

Bước đầu, Bộ KHCN đã hợp tác với Intel, Sun, METI (Nhật Bản), KIPA (Hàn Quốc) và Asia-OSS. Ngoài ra, Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng ký kết bản ghi nhớ với Sun về sử dụng PMNM Sun Microsystems StarOffice 7. Việt Nam cũng đã bắt đầu có các cơ sở đào tạo PMNM như Viện tin học Pháp ngữ - IFI, Apech... Hiện đã có hơn 20 công ty, đơn vị trong nước đăng ký phát triển sản phẩm nguồn mở. Hiện có một số sản phẩm ứng dụng triển khai PMNM cho máy tính để bàn như Vietkey Linux, Red Hat Linux, máy chủ và các hệ thống thông tin như cổng giao dịch điện tử, dịch vụ viễn thông, cơ sở dữ liệu... Điều này cho thấy năng lực phát triển PMNM ở Việt Nam là có. Bên cạnh đó, PMNM cũng đã được triển khai tại Văn phòng TW Đảng, trường Đại học, cao đẳng... Sự phát triển cộng đồng PMNM ở một số trường đại học, diễn đàn JAVA Vietnam, Vietlux cũng đã tạo những cơ sở đầu tiên đảm bảo cho việc triển khai PMNM tại Việt Nam.

Tuy nhiên, Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc thúc đẩy sự phát triển của PMNM bởi trong thực tế, từ một vài năm trước đây, PMNM đã phát triển tại Việt Nam nhưng hầu như vẫn chưa đạt được những thành tựu đáng kể.

Nhưng sẽ khó trụ nếu không nghiêm túc thực thi luật Bản quyền

Từ đầu những năm 90, Linux, một "đại diện" cho cộng đồng PMNM đã có mặt tại Việt Nam và nhanh chóng được Việt hoá. Phát triển và sử dụng các PMNM đã bắt đầu trở thành một phong trào thực sự ở Việt Nam từ năm 1999-2000.

Qua thực tế triển khai thử nghiệm, giới CNTT Việt Nam thêm khẳng định PMNM đã được lựa chọn như một giải pháp hữu hiệu khi Việt Nam tham gia các công ước quốc tế về bảo hộ sở hữu trí tuệ và trước ngưỡng cửa hội nhập nền CNTT thế giới.

Hiện, tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm (PM) luôn tỷ lệ nghịch với tỷ lệ tăng trưởng của ngành CNTT nói chung và công nghiệp PM nói riêng. Trong khi tỷ lệ vi phạm bản quyền PM bình quân trên toàn cầu hiện là 36% (có nghĩa trong 80 tỷ USD giá trị PM được cài đặt hợp pháp, có 29 tỷ USD bị chi cho PM bất hợp pháp) thì tại Việt Nam, tỷ lệ này lên tới 92%, tương đương với 41 triệu USD thất thoát.

Theo giới chuyên môn, việc Việt Nam phát triển PMNM được cho là hướng giải quyết nạn vi phạm bản quyền tại VN, thế nhưng việc ứng dụng PMNM vào thực tế không phải ở đâu cũng có, và không phải đã được triển khai rộng rãi.

Trong giai đoạn 2004-2008, Bộ Khoa học Công nghệ (KHCN) xác định đẩy mạnh ứng dụng và phát triển PMNM là mục tiêu hàng đầu nhằm tiến tới triển khai thử nghiệm PMNM với quy mô nhỏ, sau đó nhân rộng ra.

Tuy nhiên, cũng theo ông Quỳnh, việc phát triển PMNM tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều thách thức và trở ngại.

Trước hết, nhận thức chưa đúng về PMNM và những lợi ích của nó là một cản trở đối với phát triển PMNM. Tiếp đó là sự hạn chế về nguồn nhân lực, trình độ hiểu biết và sự thiếu hụt các tài liệu hỗ trợ về kỹ thuật, hướng dẫn sử dụng PMNM và giải quyết các vấn đề liên quan. Trong khi đó, những ứng dụng chuyên nghiệp và số lượng các thiết bị hỗ trợ lại không nhiều, thiếu tính tương tác với các phần mềm đóng. Ông Quỳnh cho rằng người sử dụng đã quen thuộc với mã nguồn đóng thì không dễ dàng thay đổi sang mã nguồn mở. Ông Quỳnh cũng nhấn mạnh "PMNM sẽ khó trụ được nếu luật bản quyền không được thực thi một cách nghiêm túc. Cần phải tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa mã nguồn đóng và mở".

Theo kế hoạch triển khai dự án PMNM tại Việt Nam đã được Bộ KHCN xây dựng thì PMNM sẽ được triển khai lồng ghép với các chương trình dự án khác về CNTT và sẽ được triển khai thí điểm ở một số đơn vị có mức độ sẵn sàng cao như TP Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, một trung tâm PMNM quốc gia (bao gồmCổng thông tin và kho dữ liệu; Đào tạo giáo viên, chuyên gia trình độ cao; Bản địa hoá, tuỳ biến một số ứng dụng phổ cập, nghiên cứu phát triển và chuẩn hoá, kiểm tra đánh giá; Nâng cao nhận thức và hợp tác quốc tế) sẽ được xây dựng.

Dự kiến, cuối năm 2005, Việt Nam sẽ có Trung tâm Nguồn nhân lực cho PMNM. Trung tâm này sẽ có một số chức năng: đào tạo ngắn hạn về PMNM, kiểm tra các dự án liên quan đến PMNM ở Việt Nam. Được biết, Trung tâm sẽ đào tạo dưới hai hình thức: đào tạo tại chỗ và e-learning và cũng sẽ có phòng thí nghiệm và thử nghiệm phần mềm nguồn mở. Như vậy, PMNM sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển tại Việt Nam.

Hà An

Ai sẽ là chủ nhân của Internet?

Ai sẽ là chủ nhân của Internet?

(24/06/2005) - Cuộc chiến dành quyền “cai trị” Internet đang trở nên gay gắt. Một bên chiến tuyến là Cơ quan Tên miền và Số hiệu mạng Internet (ICANN), mà nhiệm vụ hiện tại sẽ chấm dứt vào năm 2006 và bên kia là Liên minh Viễn thông Quốc tế(ITU) với lập trường cho rằng các chính phủ có toàn quyền chi phối và kiểm soát không gian ảo.

Một câu hỏi được đặt ra, vậy Internet là của ai? Hơn 700 triệu người trên toàn cầu đang sử dụng email, Web, P2P, VoIP và các ứng dụng kết nối khác và họ sẽ bất ngờ khi biết rằng đang tồn tại một cuộc chiến quyết liệt dành quyền “kiểm soát” Internet. Đây là một trận chiến diễn ra với vũ khí là các báo cáo và các kế hoạch mang tính chiến lược tại những cuộc gặp thượng đỉnh toàn cầu.

Phía bên kia là những người khẳng định rằng Internet đã và đang trở thành khái niệm phổ thông một cách nhanh chóng bởi vì nó không bị điều hành và ảnh hưởng bởi chính phủ. Đó là lập trường ICANN, một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở đặt tại California, do Bộ Thương mại Mỹ thành lập và sẽ chấm dứt nhiệm vụ vào năm 2006 sắp tới.

Một bên chiến tuyến tuyên bố chính các chính phủ quốc gia là những chủ nhân có chủ quyền thực sự với những vấn đề nhỏ nhất trên không gian ảo. Quan điểm này xuất phát từ ITU, một cơ quan của Liên Hiệp quốc bao gồm các hãng viễn thông, truyền thông và các cơ quan chính phủ có chức năng xây dựng hệ thống mã số điện thoại toàn cầu trong hơn 139 năm qua.

Vấn đề đầu tiên khi nói tới “sự cai quản Internet” chính là sự sai lầm trong cách dùng từ. Thực tế, không có nhiều thứ trên Internet có thể được “cai quản” độc quyền. Các tiêu chuẩn đối với các hệ thống hạ tầng đều được thiết lập theo các thoả thuận chung giữa các tổ chức như IETF (Internet Engineering Taskforce), IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers), IAB (Internet Architecture Board) và ITU.

Những vấn đề nổi bật nhất hoặc những vấn đề mà người dùng lo ngại nhất, chẳng hạn nạn spam, sự lừa đảo, phishing, nội dung khiêu dâm và bảo mật thông tin cá nhân… lại do các cơ quan như lực lượng cảnh sát quốc tế, các nhà lập pháp và hàng trăm các công ty bảo mật và các tổ chức hiệp hội công nghiệp đảm nhiệm.

Trong khi đó, đối với những nội dung nhiều tính nhạy cảm, chẳng hạn khiêu dâm hay quyền tự do ngôn luận, không quốc gia nào sẵn sàng nhượng bộ quyền được kiểm soát những vấn đề này.

Tổng Thư ký ITU - ông Yoshio Utsumi – nhận thức rõ ràng vấn đề này khi ông khuyến cáo các đoàn đại biểu có mặt tại hội nghị về kiểm soát Internet hồi tháng 11/2004 rằng nên hiểu thuật ngữ này “ở góc độ hẹp nhất”. Thay vì đề cập tới các vấn đề như spam hay tính bảo mật cá nhân, vốn đã được thảo luận chi tiết trong các phiên họp trước đây tại Hội nghị Thượng đỉnh về Xã hội Thông tin, “chúng ta nên tập trung vào các hoạt động cốt lõi của việc quản lý các nguồn Internet của ICANN, đặc biệt là các domain ở cấp cao nhất – những vấn đề hiện vẫn chưa có giải pháp cụ thể”.

Trọng tâm của “sự cai trị”

Vấn đề cốt lõi của Internet chính là Hệ thống tên miền (DNS). Có thể hiểu DNS thực hiện chức năng giống như một hệ thống mã số điện thoại hoặc một hệ thống tìm kiếm và nhận biết duy nhất đang phát triển với Internet.

Trong mọi trường hợp, khi nói tới “sự cai trị Internet”, chính DNS và những vấn đề liên quan là đối tượng của “sự cai trị” này. Đó chính là công việc mà ICANN đang chịu trách nhiệm, mặc dù sự quản lý DNS và các hệ thống gán địa chỉ thực tế lại được thực hiện bởi các tổ chức do ICANN uỷ quyền như IANA (Cơ quan gán mã số Internet) và một số Trung tâm Thông tin mạng (NIC), chẳng hạn như Trung tâm Thông tin mạng APNIC ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Ban đầu, ICANN chỉ là một cơ quan không chính thức kiểm soát hệ thống các địa chỉ xuất hiện từ những năm thập niên 70 và 80. Tại địa chỉ website ICANNwatch.org có nhấn mạnh nội dung sau: “Với tư cách là người đầu tư cho các dự án, chính phủ Mỹ trở thành người kiểm soát không chính thức về DNS. Sự tăng trưởng theo cấp số mũ của Internet đã làm nảy sinh những phức tạp đối với hệ thống quản lý DNS hiện tại, và những vấn đề trước đây đơn thuần mang tính kỹ thuật hiện nay đã trở thành các vấn đề chính trị, luật pháp và kinh tế thu hút sự quan tâm chính thức ở cấp độ cao”.
ICANN bắt đầu trở thành một tổ chức nhiều quyền lực hơn trong nhiệm kỳ đầu tiên của chính quyền Mỹ dưới thời ông Clinton khi mà Internet chuyển biến từ một công cụ nghiên cứu và mang tính sở thích thành một mạng lưới truyền thông rộng khắp.
ICANN trên thực tế được thành lập năm 1998 trong một Bản ghi nhớ với Bộ Thương mại Mỹ. Văn bản này được gia hạn vài lần cho tới khi Bộ Thương mại tuyên bố CANN sẽ kết thúc nhiệm kỳ của mình vào năm 2006. Vấn đề phát sinh sẽ là cơ quan nào sẽ được trao trọng trách kiểm soát Internet kể từ năm 2006? Đó là một vấn đề lớn.
Đứng trước thời hạn cuối cùng vào năm 2006, Liên Hiệp quốc đã triệu tập Hội nghị Thượng đỉnh Xã hội Thông tin, tổ chức song song với các hội nghị của Liên Hiệp quốc về môi trường và sự nóng lên của Trái đất.

Hợp tác ở cấp độ toàn cầu

Các quan chức tại Hội nghị Thượng đỉnh Xã hội Thông tin đầu tiên tổ chức ở Geneva vào tháng 12/2003 đã không thể đi đến thống nhất trong bất cứ vấn đề nào cụ thể ngoài “Internet đã phát triển thành một vấn đề toàn cầu có ảnh hưởng tới cộng đồng và sự kiểm soát Internet cần thiết phải trở thành một phần căn bản trong chương trình nghị sự của Hội nghị Thượng đỉnh Xã hội Thông tin”.

Từ đó, Nhóm Làm việc của Liên hiệp quốc về Kiểm soát Internet (WGIG) đã được thành lập với mục đích vạch ra cho các đại biểu tại hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai ở Tuy-ni-di vào tháng 11/2004 một điểm khởi đầu đàm phán. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến bất đồng. Theo các chuyên gia, các cuộcđàm phán tại WSIS đã động chạm tới các vấn đề như chủ quyền quốc gia, an ninh quốc gia, tính bảo mật cá nhân và nhiều vấn đề khác.

Điều này “phản ánh thực tế là quyền lực Internet không chỉ bị giới hạn bởi các vấn đề mang tính kỹ thuật hoặc bởi các vấn đề về chính sách. Càng ngày, nó càng liên quan tới các vấn đề xã hội, kinh tế và an ninh quốc gia”.

Đại diện của Chính phủ Trung Quốc, ông Hi Qiheng, cố vấn của Uỷ ban Khoa học và Công nghệ nước này, lại đặt vấn đề một cách gay gắt hơn. “Không một công ty tư nhân hoặc nhóm lợi ích nào có thể đại diện quyền lợi của mọi người như chính phủ quốc gia. Nói một cách ngắn gọn, để đảm bảo sự phát triển nhanh chóng, trật tự và lành mạnh của Internet, sự tham gia sâu sắc của chính phủ cần phải được thiết lập”.
Bên cạnh địa chỉ IP và tên miền, ông Hi còn nêu ra các vấn đề như bảo mật thông tin, nội dung khiêu dâm, tội phạm Internet, “hệ thống pháp lý quốc tế về Internet”, thương mại điện tử và “bảo mật căn bản trong điều hành mạng” là những vấn đề mà chỉ các chính phủ trên thế giới mới có thể giải quyết.

Thậm chí vai trò của ITU cũng trở nên yếu thế trong ngành công nghiệp viễn thông bởi sự xuất hiện của các tiêu chuẩn cùng tồn tại. Nhiều chuẩn công nghiệp quan trọng mới được công bố, trong đó có chuẩn công nghệ không dây 802.11 và 802.16 của IEEE.

Thậm chí ngay cả trong các lĩnh vực quan trọng khác, các tiêu chuẩn của ITU cũng không chiếm được ưu thế, chẳng hạn H.323 cho VoIP bị thay thế bởi chuẩn SIP của IETF.

Sự bất đồng

Việc khắc phục những căng thẳng và bất đồng giữa ICANN và những đối tượng thuộc phạm vi quyền hạn của tổ chức này là rất khó khăn. Việc quản lý các nguồn địa chỉ là một nhiệm vụ mơ hồ, nhưng chắc chắn điều đó sẽ dẫn tới nhiều mâu thuẫn. Nhiều người cho rằng ICANN đại diện cho quyền lợi độc quyền của chính phủ Mỹ và các tập đoàn lớn chứ không nhằm cung cấp một định hướng cho quyền lợi tổng thể.

Một vấn đề gần đây thường được nhắc tới là những rắc rối nhỏ liên quan tới đăng ký Whois, một hệ thống ghi lưu các thông tin chi tiết về chủ sở hữu một tên miền. ICANN từng quy định các hình thức xử lý nghiêm khắc đối với những tổ chức, cá nhân sai phạm trong việc đăng ký thông tin Whois và động thái này gây nên những phản ứng khá gay gắt. Các nước châu Âu phản ứng rằng điều này xung đột với các quy định về quyền bảo mật cá nhân của EU. Kết quả là một giải pháp linh hoạt hơn đã được đề xuất mang tính thoả hiệp.

Khi mà thời hạn 2006 đang tới gần, cuối năm ngoái, ICANN công bố một “Kế hoạch chiến lược” nhằm mục đích xoa dịu những lời chỉ trích bằng việc tuyên bố họ sẽ nâng cao hơn khả năng đáp ứng, cởi mở hơn và trách nhiệm hơn. Kế hoạch này cũng đồng thời là một thông điệp rõ ràng tới Bộ Thương mại, ITU và các chính phủ trên thế giới rằng mục tiêu của ICANN là “hoàn thành nhiệm vụ đã được giao phó bằng việc thành lập một ICANN hiệu quả, có tính quốc tế, tổng thể và hoạt động độc lập”.
Hiểu một cách khác, ICANN muốn khẳng định một sứ mạng mới sau năm 2006.

Tương lai mơ hồ

Vậy mọi việc sẽ tiến triển như thế nào? Không ai trong WGIG có thể trả lời được câu hỏi này. Tương lai của ICANN phụ thuộc vào việc liệu tổ chức này có tiến hành được những thay đổi hứa hẹn trước thời điểm 2006 hay không. Đây cũng thực sự là một câu hỏi chưa tìm được lời giải đáp.

Có vẻ như điểm lạc quan nhất chính là việc chúng ta nhận thức được rằng Internet vẫn hoạt động bất chấp tất cả. Hơn 700 triệu người dùng Internet thông qua hàng ngàn mạng lưới kết nối, hàng triệu máy chủ và hàng tỷ trang web.

Tất cả sẽ diễn ra với sự hợp tác và chung sức của các chính phủ, các tổ chức và các doanh nghiệp. Không cần ai được chỉ đạo làm điều này. Không cần một chính phủ nào bàn thảo và mơ ước về một kế hoạch như vậy. Nhân loại sẽ đứng ra nhận trách nhiệm bởi tất cả mọi người đều đánh giá rằng Internet là một điều tốt đẹp.

Hãy ghi nhớ điều này bởi chỉ trong vòng 12 tháng tới, vấn đề này sẽ thoát khỏi các chủ đề về kỹ thuật và xuất hiện trên các mặt báo lớn, và những cuộc tranh luận nảy lửa sẽ tiếp tục khởi động. Tuy nhiên, cho dù sẽ không dẫn tới một giải pháp cụ thể nào nhằm vào những vấn đề cụ thể nào chẳng hạn chống spam hay tội phạm mạng, Internet sẽ vẫn hoạt động và phát triển.

Phan Hoàng

Ý nghĩa của Unicode trong việc Việt hoá Linux

Đỗ Bá Phước
jdo@usa.net

Nội dung

  1. Unicode là ngôn ngữ của Internet.
  2. Unicode là mã ký tự, cơ sở của công nghệ thông tin đa hệ.
  3. Chữ Việt Nam trong hệ Unicode.
  4. Bản địa hoá: tận dụng những giải pháp kỹ thuật có sẵn, phần mềm nguồn mở.
  5. Giai đoạn chuyển tiếp sang Unicode, trong điều kiện của Việt Nam.

Giới thiệu

Công trình xây dựng chuẩn Unicode bắt đầu từ hơn mười năm nay, do yêu cầu của các công ty tin học muốn xâm nhập các thị trường lớn ngoài bắc Mỹ và châu Âu. Do công dụng phổ biến nhất của máy tính là xử lý chữ viết, có yêu cầu là máy tính phải xử lý được các bộ chữ với hàng nghìn ký tự ngoài hệ Latin; do đó, Unicode dùng 16-bit để có thể định nghĩa đến hơn 1 triệu ký tự, so với 256 ký tự cho 8-bit. Ban Kỹ thuật Unicode [Unicode Technical Committee (UTC)] đã cùng làm việc chặt chẽ với Tổ chức Chuẩn hoá Quốc tế (ISO) để kết hợp hai bộ mã Unicode và ISO 10646 thành một chuẩn và phát triển một cách đồng bộ.

Unicode là ngôn ngữ của Internet

Trong những năm đầu tiên, Unicode chỉ là niềm hy vọng của một nhóm chuyên gia muốn đạt mục đích xử lý đa ngôn ngữ một cách hợp lý nhất. Vai trò trung tâm của xử lý đa ngôn ngữ thật sự được thể hiện rõ ràng qua sự bùng nổ của Internet, khi cần có sự trao đổi thông tin thông suốt khắp thế giới.

Với nổ lực của các công ty thành viên của Ủy ban Kỹ thuật Unicode để đáp ứng thị trường Internet, Unicode đã được đưa vào công nghệ hiện đại. Từ đầu, Sun Microsystems đã lấy Unicode làm bộ mã chính của ngôn ngữ Java; đến nay, Java trở thành ngôn ngữ và hệ phần mềm phổ thông nhất để xây dựng các ứng dụng Internet. Hiện nay, các hệ điều hành hiện đại thuộc gia đình Windows của Microsoft lấy cơ sở là Unicode; do một phần đóng góp của những kỹ sư gốc Việt Nam trong Microsoft, chữ Việt được hỗ trợ như chữ viết châu Âu.

XML [eXtensible Markup Language] là ngôn ngữ mới của Web, nhằm vượt qua các giới hạn của HTML [HyperText Markup Language] và đồng thời phối hợp kỹ thuật Web chặt chẽ hơn với kỹ thuật cơ sở dữ liệu. Chuẩn XML lấy Unicode làm bộ mã chuẩn; đồng thời, Oracle 8i hỗ trợ Unicode.

Unicode là mã ký tự, cơ sở của công nghệ thông tin đa hệ

Đặc điểm và mục tiêu quan trọng nhất của bộ mã ký tự là trao đổi và thông tin chữ viết qua mã số. Trong mỗi bộ mã, một mã số định nghĩa cho một ký tự nhất định [uniqueness], và mỗi bộ mã phải định nghĩa đầy đủ toàn bộ ký tự [completeness]. Vì có thể có nhiều bộ mã khác nhau khi trao đổi thông tin bằng máy tính, dẫn đến việc một mã số có thể chỉ định nhiều ký tự khác nhau, nên vấn đề tất yếu là phải quy định rõ ràng bộ mã nào đang được sử dụng. Quan trọng hơn nữa, các khâu công nghệ thông tin phải chấp nhận và hỗ trợ những quy định này.

Các bộ mã 8-bit cho chữ Việt không thể nào đáp ứng toàn bộ những yêu cầu trên, nên việc cài đặt các bộ mã Việt hiện có đòi hỏi những sáng kiến ngoài lề, không theo đúng những giải pháp trong công nghệ. Ví dụ cụ thể nhất là sử dụng hai bộ font (ABC, VISCII, VPS), hoặc định nghĩa ký tự một cách tuỳ tiện (VNI).

Vì chữ Việt Nam đã có sẵn trong Unicode, sử dụng Unicode sẽ cho chúng ta vượt qua những bế tắc trên, không những trong phạm vi một hệ điều hành, mà đồng thời khi trao đổi giữa nhiều hệ điều hành khác nhau. Môi trường công nghệ thông tin đang phát triển rất nhanh ngoài hệ Windows, bao gồm các hệ khác như Linux, và các ứng dụng như máy tính cầm tay hoặc điện thoại nối vào Internet.

Chữ Việt Nam trong hệ Unicode

Chữ quốc ngữ đã có mặt trong những bảng thảo Unicode cũng như ISO 10646, tuy theo hai cách khác nhau:

Unicode sử dụng dạng tổ hợp [combining characters], tức là đưa nguyên âm và dấu thanh thành ký tự khác nhau, và

ISO theo dạng dựng sẵn [precomposed character], nhưng lại thiếu 6 ký tự quốc ngữ.

Sau khi thống nhất hai bộ mã, chữ quốc ngữ và vài chữ viết có mặt trong Unicode/ISO01646 theo ba dạng -- hai dạng kể trên và:

dạng cơ bản [canonical form], coi như là tổ hợp triệt để, tách luôn dấu ra khỏi nguyên âm. Trên nhiều phương diện, dạng này là dạng tối ưu để xử lý chữ Việt trong các ứng dụng như xếp thứ tự, tìm kiếm.

Ký tự "" (đồng) được định nghĩa trong Unicode/ISO10646, theo đề nghị của TCVN, đại diện của Việt Nam trong ISO.

Hiện nay, Viện Hán-Nôm cùng TCVN tiếp tục tham gia với IRG [Ideographic Rapporteur Group] của ISO/IEC JTC1/SC2/WG2 đưa chữ Nôm vào Unicode/ISO10646. (2) Đồng thời, vẫn còn nổ lực đưa chữ Chàm, và chữ Thái Việt.

Bản địa hoá

Theo tinh thần tách biệt tác dụng của việc xử lý -- ví dụ như bộ mã thuộc lĩnh vực trao đổi [information interchange], bàn phím thuộc lĩnh vực vào [input method], font là thuộc lĩnh vực thể hiện [presentation] -- vấn đề bản địa hoá là một lĩnh vực riêng, được thực hiện bằng locale.

Vì phần mềm truyền thống [legacy] xử lý 8-bit là chính, chuẩn Unicode có quy định một phương pháp chuyển đổi [transformation format] 8-bit, được gọi là UTF-8, để tránh các ký tự 16-bit. Sau đây là ví dụ của các dạng Unicode:

người

precomposed characters

combining characters

canonical form

VietNet



ngu+o+`i

Unicode UTF-16
(dec, HTML)

người

người

người

Unicode UTF-16
(hex)

006E 0067 01B0 1EDD 0069

006E 0067 01B0 01A1 0300 0069

006E 0067 0075 031B 006F 031B 0300 0069

Unicode UTF-8
(hex)

6E 67 C6 B0 E1 BB 9D 69

6E 67 C6 B0 C6 A1 CC 80 69

6E 67 75 CC 9B 6F CC 9B CC 80 69

Unicode text

người

người

người

Đây cũng có thể xem như một thước đo về độ hỗ trợ đối với Unicode. Phần mềm nào thể hiện rõ và chính xác dòng cuối ("Unicode text" và 3 chữ "người") có mức hỗ trợ Unicode cao nhất. (3)

Giai đoạn chuyển tiếp

Xu hướng dùng Unicode để thực hiện các trạm Việt ngữ trên Web ngày càng mạnh, và có lẽ đó là môi trường Unicode phổ biến nhất, vì Microsoft đã cung cấp những bộ font cơ bản đọc chữ Việt rất dễ và rõ trên màn ảnh. Song song với Web vẫn duy trì những ứng dụng tách biệt, như soạn thảo văn bản, sử dụng những công cụ 8-bit hiện có như ABC, VNI. Một lý do chính là số lượng font 8-bit hiện có nhiều hơn hẳn số font 16-bit, vì các công ty phần mềm chưa nhận thị trường Việt Nam đủ lớn để đặt ký tự Việt vào những bộ font Unicode vừa đưa ra sản xuất.

Vì vậy, nhu cầu chuyển đổi văn kiện và dữ kiện một cách dễ dàng và chính xác giữa 8-bit và 16-bit là một nhu cầu rất lớn. Tuy nhiên, các công cụ chuyển đổi nên khuyến khích người dùng chuyển sang Unicode, xây dựng một thế mạnh và đồng nhất, nhằm lôi cuốn càng nhiều người dùng và sản phẩm. (Đây là hiện tượng ảnh hưởng mạng [network effect].)

Trong giai đoạn chuyển tiếp, một công trình có thể khởi đầu là một bộ tìm kiếm [search engine] chữ Việt, lấy Unicode làm cơ sở để trữ các trang Web.

Kết luận

Bản địa hoá và Việt hoá Linux thông qua Unicode là một bàn đạp quan trọng để thống nhất việc xử lý chữ Việt. Qua cách làm việc vừa hợp tác vừa cạnh tranh [coopetition], giới công nghệ thông tin sẽ xây dựng và củng cố nền tảng vững chắc cho chính mình và cho người dùng nói chung, trong khuôn khổ công nghệ toàn thế giới.

Tham khảo

(1) http://itny.tripod.com/dbphuoc-u.html

(2) http://zdfree.free.fr/diendan/archuni/archuni.html

(3) Mark Davis: http://www.macchiato.com/unicode/convert.html has UTF, RACE and LACE conversions, with a bit better error checking; http://www.macchiato.com/unicode/charts.html has Unicode charts, plus a new "filter" on the left;

http://www.macchiato.com/unicode/show.html lets you type or paste in Unicode text, and see GIFs (in case fonts are missing).

http://www.unicode.org
http://www.ibm.com/developer/unicode
http://www.linuxvn.com
http://cafe68t.multimania.com
http://kimle.net/unicode

Cảm tạ

Cảm ơn các anh chị Hồ Văn Tiến, Lê Phạm Ngưng Hương, và Nguyễn Hoàng đã giúp hoàn chỉnh bài này. Mọi sơ sót thuộc về phần tác giả./.

Tập đoàn LINUX

(28/07/2005) - Linus Torvalds từng đứng đầu nhóm những kẻ nghiền lập trình khốn khổ. Giờ đây, mọi thứ đã thay đổi. Bài viết này tập trung vào câu trả lời tại sao mô hình kinh doanh Linux lại đang ngày càng đe dọa Microsoft.

Năm năm trước, Linus Torvalds phải đối mặt với một sự biến đổi lớn. Người đàn ông Phần Lan này đã đi đầu trong việc dựng nên một hệ thống điều hành cho máy tính có tên gọi Linux với sự giúp đỡ của hàng ngàn lập trình viên tình nguyện, và phần mềm mã nguồn mở này đã trở nên vô cùng thông dụng cho việc điều hành một Website trong sự bùng nổ của thời đại ‘dot-com’. Tuy nhiên, vào thời điểm Linux bắt đầu cất cánh, một vài lập trình viên lại có suy nghĩ khác. Những người này cảnh báo rằng lập trường kiên định của Torvalds trong việc tự mình duyệt mọi đoạn mã trong phần mềm đang tạo ra một sự bế tắc. Trừ phi ông thay đổi quan điểm của mình, nếu không họ sẽ tạo ra một gói phần mềm khác - một mối đe dọa có thể làm Linux rơi vào khủng hoảng.

Cuộc đối đầu lên tới đỉnh điểm và cuối cùng, dưới sức ép của các lập trình viên, Torvalds đã phải nhượng bộ. Ông đã đồng ý thay đổi theo hướng tăng sự uỷ quyền và sử dụng phần mềm để tự động hoá một số công việc tạo mã. Khi phần mềm được chính thức sử dụng vào năm 2002, Torvalds đã có thể thực hiện công việc của mình nhanh gấp năm lần trước đó.

Sự thoả hiệp này chỉ là một trong những thay đổi quan trọng trong cách thức mà Linux được tạo ra và phân phối trong vòng vài năm qua.

Biến đổi theo hướng chuyên nghiệp

Ngày nay, câu chuyện trên đây chỉ hoàn toàn mang tính lịch sử. Từ một nhóm ít được thế giới bên ngoài biết tới, vài năm trở lại đây, cộng đồng các lập trình viên Linux đã trở nên phát triển, được tổ chức tốt và hiệu quả hơn nhiều. Có thể nói rằng Linux đã trở nên chuyên nghiệp. Torvalds giờ đây đã có một đội ngũ chuyên gia, đa phần trong số họ được các công ty công nghệ trọng dụng cho việc giám sát phát triển các dự án có mức độ ưu tiên hàng đầu. Các tập đoàn khổng lồ như IBM, HP và Intel đang ủng hộ Torvalds với sự tập trung công nghệ, các cơ chế marketing hiệu quả và hàng ngàn lập trình viên chuyên nghiệp. Riêng IBM cũng đã có 600 lập trình viên dành riêng cho Linux so với con số vẻn vẹn hai người hồi năm 1999. Thậm chí tập đoàn này còn có một ban lãnh đạo được thành lập cho mục đích ưu tiên phát triển Linux.

Kết quả chính là một Linux mạnh hơn. Phần mềm này đang thâm nhập vào mọi lĩnh vực, từ điện thoại di động của Motorola và các robot của Mitsubishi cho tới các máy chủ của eBay và các siêu máy tính tại NASA được sử dụng cho việc nghiên cứu giả lập tàu vũ trụ. Sự lớn mạnh của Linux đang khuấy động ngành công nghiệp công nghệ, thách thức vị thế số một vốn thuộc về Microsoft và tạo ra một mô hình mới cho việc sáng tạo ra các phần mềm. Trên thực tế, sở thích một thời của Torvalds nay đã phát triển thành một Tập đoàn Linux (Linux Inc.). Ông Mark Blowers, một chuyên gia phân tích tại nhóm nghiên cứu thị trường Butler Group, đánh giá: “Mọi người đã từng nghĩ rằng điều này sẽ không xảy ra. Có quá nhiều người và nhiều công ty khác nhau cùng quan tâm tới nó. Nhưng giờ đây, rõ ràng là Linux đã thành công”.

Không chỉ bởi Linux Inc. không hoạt động giống một tập đoàn truyền thống. Nó không có trụ sở chính, không quan chức điều hành và không có các báo cáo tài chính hàng năm. Và nó không chỉ là một công ty duy nhất. Thực tế, nó là một liên doanh với nhân công từ hàng chục công ty khác, cùng với hàng ngàn cá nhân ở khắp nơi, cùng chung sức để phát triển Linux. Các công ty đều có đóng góp vào việc phát triển thông qua việc trả lương cho các lập trình viên và sau đó thu tiền từ việc bán ra các sản phẩm và cung cấp các dịch vụ chạy trên nền hệ điều hành Linux. Họ không thu tiền trực tiếp từ bản thân Linux, bởi theo quy định hợp tác, Linux được cung cấp cho mọi người miễn phí.

Vậy làm cách nào các công ty thu được lời từ một phần mềm miễn phí? Có một vài cách thức khác nhau. Các nhà phân phối, trong đó có Red Hat và Novell, cung cấp Linux với các sách hướng dẫn hữu ích cho người dùng, các bản cập nhật thường xuyên, các dịch vụ khách hàng và thu khách hàng một khoản phí đăng ký hàng năm. Phí này giá trị từ 35 USD/năm (với các phiên bản Linux cơ bản dành cho máy để bàn) tới 1.500 USD (cho các phiên bản cao cấp của máy chủ). Red Hat, với khoảng 200 lập trình viên, đạt mức lợi nhuận 53 triệu USD trong năm tài chính 2004, tức là tăng gấp ba so với năm trước, trong khi doanh thu tăng 56%, đạt 195 triệu USD.

Thế nhưng, con số này lại trở nên nhỏ bé trước thành công của các nhà sản xuất máy tính PC và máy chủ có cài đặt sẵn hệ điều hành Linux. IBM, HP và nhiều nhà sản xuất khác làm giàu từ việc cung cấp các máy tính mà không yêu cầu khách hàng phải trả tiền bản quyền hệ điều hành, mà nếu sử dụng các phiên bản Windows hoặc Unix, số tiền này có thể lên tới hàng ngàn USD. Với HP, sản lượng máy chủ chạy trên nền Linux bán ra đạt gần 3 tỷ USD trong năm ngoái, tăng gần gấp đôi so với ba năm trước đó.

Trong cộng đồng Linux, lợi thế này lại được tăng cường bởi triết lý chia sẻ theo bản chất mã nguồn mở. Dick Porter, một lập trình viên tự do thường làm công việc của mình dưới tán cây tao tại khu vườn của mình ở xứ Wales lại cùng chung một đội ngũ với Jim Stallings, một cựu lính thuỷ hiện đang làm việc cho IBM. Điểm chung giữa họ là niềm say mê trong việc sáng tạo ra một Linux đa năng hơn và hoàn thiện hơn. Kết quả là hình thành một dạng văn hoá hợp tác giữa những nhân tài nhưng đồng thời mang tính chất của học thuyết tiến hoá Darwin. Mọi công ty hoặc cá nhân đều được tự do tham gia vào Linux Inc., và những người có đóng góp nhiều nhất sẽ có được uy tín và vai trò xứng đáng nhất. James F. Moore, một chuyên gia cao cấp của Trung tâm Internet và Xã hội Berkman thuộc Trường Luật Harvard nhận xét: “Linux đã trở thành hệ sinh thái doanh nghiệp tự nhiên đầu tiên”.

Điểm tựa kỳ lạ

Để hiểu được hoạt động bên trong của Linux Inc., chúng ta hãy cùng tìm hiểu về “hệ sinh thái” tiến hoá nhanh này. Một điều rõ ràng là cộng đồng ủng hộ Linux đã lớn mạnh hơn người ta có thể hình dung. Mặc dù Torvalds vẫn ở vị trí trung tâm, anh cũng đã rút lui khỏi một số vai trò và chấp nhận nhiều sự giúp đỡ từ các lập trình viên độc lập và từ các tập đoàn công nghệ khổng lồ mà tương lai đã gắn chặt với Linux. Một bước tiến quan trọng là việc IBM, Intel và nhiều đại gia khác đồng ý hợp tác xây dựng Trung tâm Nghiên cứu Phần mềm Nguồn mở (OSDL) như một tâm điểm cho việc thúc đẩy sự chấp nhận Linux.

Có lẽ điều đáng ngạc nhiên nhất là việc các vụ tấn công về mặt pháp lý nhằm vào Linux trong những năm qua đã góp phần làm cho cộng đồng này càng trở nên thống nhất. Vẫn còn những vấn đề nội bộ, chẳng hạn những người ủng hộ Linux sẽ vẫn không thể hài lòng khi các phiên bản khác nhau của phần mềm này không tương thích với nhau. Một vụ kiện của SCO Group - một công ty phần mềm yêu cầu IBM phải trả cho họ các quyền sở hữu trí tuệ về Linux - đã mang tới cho những người ủng hộ Linux động thái hợp tác hơn bao giờ hết. Các công ty công nghệ đang sẵn sàng mở hầu bao để trả cho khả năng hỗ trợ quản lý, bao gồm cả một đội ngũ về luật pháp để kiểm tra từng chi tiết mã nguồn đảm bảo rằng nó không vi phạm các vấn đề về đăng ký bản quyền. Thậm chí cả những người ủng hộ nhưng có quan điểm khác cũng tập hợp lại để bảo vệ Linux và tạm thời quên đi những yêu cầu của mình.
Với tất cả những điều đó, Linux đã trở thành một đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ nhất mà Microsoft từng đối mặt. Các nhà nghiên cứu của IDC dự đoán rằng trong mảng thị trường về máy chủ, thị phần của Linux sẽ tăng từ 24% hiện tại lên 33% vào năm 2007, so với 59% của Windows. Đó là bởi vì, lần đầu tiên, Linux chấp nhận cuộc chiến với Windows với tư cách không chỉ là một giải pháp điều hành thay thế, và ép Microsoft phải sử dụng các con bài giảm giá để tránh bị giảm lượng bán ra. Trong một cuộc điều tra giữa các doanh nghiệp do Forrester Research tiến hành, 52% cho rằng họ đang thay thế các máy chủ Windows bằng Linux. Trong lĩnh vực máy để bàn, IDC cho rằng thị phần của Linux sẽ tăng lên gấp đôi, từ 3% hiện tại lên 6% vào năm 2007. IDC cũng dự đoán doanh thu các thiết bị sử dụng Linux sẽ có bước nhảy vọt từ 11 tỷ USD (năm 2004) lên 35,7 tỷ USD (năm 2008).

Phản ứng trước diễn biến này, Microsoft vừa phát động một chiến dịch chống lại cái mà họ coi là mối đe dọa số một. Tập đoàn khổng lồ về phần mềm này, với chiến dịch công khai “Giương cao sự thật”, tuyên bố rằng Windows bảo mật hơn và có giá thành dễ chấp nhận hơn khi sở hữu một phiên bản thực sự của Linux. Và Microsoft đã dành được một số thắng lợi nhất định. Chính quyền thành phố Paris hồi tháng 10 đã ra quyết định chống lại một sự chuyển đổi hoàn toàn sang sử dụng Linux với lý do chi phí cho việc này sẽ thực sự là một vấn đề. Khi mà các nhà phân phối Linux chú trọng vào việc định giá dựa trên dịch vụ đăng ký, Microsoft khẳng định rằng họ đã từng sử dụng chiến lược giá này để vượt qua các đối thủ cạnh tranh trước đây, trong đó có Tập đoàn Netscape Communications. Giám đốc điều hành Microsoft Steve Ballmer nói: “Đó giống như là một câu chuyện cũ đối với chúng tôi, và chúng tôi biết làm cách nào để cạnh tranh trong trường hợp tương tự”.

Tuy nhiên, ông Ballmer có thể gặp khó khăn trong việc thuyết phục khách hàng rằng Windows rẻ hơn Linux. Không hẳn như vậy. Với Windows, người dùng cuối cùng sẽ phải trả một khoản tiền khác nhau từ hàng trăm USD cho một PC cho tới hàng ngàn USD cho một máy chủ, trong khi điều này không đúng với Linux. Trong ba năm, tổng chi phí với một máy chủ nhỏ dùng cho 30 người, bao gồm giá bản quyền, cước hỗ trợ và quyền cập nhật phiên bản, sẽ vào khoảng 3.500 USD khi dùng Windows, so với 2.400 USD khi bạn đăng ký Linux của Red Hat. Trường hợp Microsoft có lợi thế chỉ là khi một công ty đang sử dụng Windows. Khi đó, có thể giá sẽ giảm hơn khi cập nhật so với việc thay thế bằng một phiên bản của Linux bởi bạn có thể phải tính tới cả chi phí đào tạo mới với hệ điều hành này. Nhà phân tích George Weiss của Gartner cho rằng sản phẩm của Microsoft có thể được cân nhắc trong những trường hợp như vậy, tuy nhiên, “không có gì cho thấy Windows sẽ đem lại sự tiết kiệm trong chi phí sở hữu nói chung”.

Microsoft không hề ngần ngại dùng mọi nỗ lực để chiến thắng cuộc chiến này. Có nhiều thông tin cho rằng các quan chức Microsoft đã cảnh báo các công ty rằng họ đang phải đối mặt với những vấn đề về pháp lý khi sử dụng Linux. Một người phát ngôn của một công ty có quan chức điều hành từng có cuộc đàm phán với Ballmer cho biết Microsoft đang cân nhắc việc kiện các công ty đang sử dụng Linux và cho rằng điều này vi phạm đăng ký sáng chế của Microsoft.

Các tác động từ công chúng

Các công ty cạnh tranh nhau – trong đó có IBM và HP - đang chứng minh rằng họ có thể thu lợi từ việc sử dụng triết lý mã nguồn mở trong việc chia sẻ công việc. Bằng việc hợp tác tập trung vào hệ điều hành này, họ đã đạt được một nền tảng vững chắc để xây dựng các dự án công nghệ và tiết kiệm hàng triệu USD chi phí lập trình. Torvalds nói: “Nhiều phần mềm sẽ được phát triển theo cách này. Nó đặc biệt hiệu quả đối với các vấn đề liên quan tới hạ tầng có tác động tới tất cả mọi người. Về lâu dài, không gì có thể cạnh tranh với tư tưởng mã nguồn mở”.

Linux Inc. giờ đã trở nên mạnh mẽ và rõ ràng nó vẫn có thể tiếp tục phát triển bất chấp sự có mặt hay không của Torvalds. Hiện tại, cánh tay phải của Torvalds, Andrew Morton, đang chia sẻ trách nhiệm đứng đầu với ông và chịu trách nhiệm xuất hiện trước công chúng. Trong khoảng thời gian từ 1997 tới 2003, khi Torvalds làm việc tại nhà sản xuất chip Transmeta, việc nghiên cứu Linux không phải là công việc chính của ông, nhưng cũng chính trong thời gian này, thị phần của Linux trong dòng máy chủ tăng từ 6,8% lên 24%. Bên cạnh đó, Linux Inc. không phải là quân đội, các lập trình viên không ngồi yên chờ nghe lệnh. Cộng đồng Linux biết cách tiến hành các quá trình phát triển, và họ làm điều đó. Torvalds nói: “Tôi quản lý người, nhưng không phải theo nghĩa thông thường. Tôi không thể nói ‘Anh phải làm điều đó bởi vì đó là lương sẽ trả cho anh’. Chúng tôi biết chúng tôi muốn làm gì nhưng có thể không biết cách thực hiện. Chúng tôi phải cố gắng mọi cách. Đôi khi có ai đó bất đồng và họ tìm thấy một con đường. Họ ra đi và nghiên cứu hàng năm trời. Sau đó, họ quay trở lại và nói ‘Tôi sẽ chỉ cho các bạn rằng sẽ nhanh hơn nhiều nếu làm theo cách này’. Và đôi khi họ đúng”.

Sự kết hợp giữa các tác động từ cộng đồng và tác động mang tính thương mại đã có hiệu quả ngay từ những ngày đầu tiên của công nghiệp điện toán. Các chuyên gia và các nhà nghiên cứu chia sẻ các sáng kiến phần mềm của họ. Thế nhưng xuất hiện sự thay đổi vào những năm 1980 khi ngành công nghiệp bắt đầu định hình. Để phản ứng lại, lập trình viên Richard Stallman phát động phòng trào Phần mềm Miễn phí. Câu trả lời của ông là hệ điều hành GNU, được dựa trên Unix, do cộng đồng các lập trình viên chia sẻ với nhau. Chỉ riêng Torvalds đi theo một hướng riêng với một đoạn phần mềm có tên gọi “nhân”, là trung tâm điều khiển toàn bộ hệ thống điều hành và phối hợp với các thành phần khác, chẳng hạn một phần mềm ra lệnh cho máy in thực hiện lệnh in. Các lập trình viên gọi nhân đó là “Linux”, là sự kết hợp giữa Linus và Unix và Linux trở thành cái tên nổi tiếng. Torvalds quyết định lựa chọn biểu tượng cho Linux bằng một con chim cánh cụt thân thiện có tên gọi Tux - cái tên này bắt nguồn một phần từ chú chim cánh cụt nhỏ Fairy đã từng cắn ngón tay của Torvalds ở một vườn thú Australia.

Stallman hiện vẫn là một tín đồ với phần mềm miễn phí, nhưng tính cách lập dị và vẻ bề ngoài khác thường đã làm ông không phù hợp khi tham gia các đám đông lịch sự. Thậm chí Stallman còn không nói chuyện với Torvalds kể từ khi Torvalds quyết định sử dụng một phần mềm không thuộc loại nguồn mở để phát triển Linux. Stallman nói về Torvalds: “Nơi ông ta muốn đưa mọi người tới là một sai lầm. Đó không phải là hướng tới sự tự do”.

Torvalds được coi là người đứng đầu Linux. Vào năm 1991, Torvalds chỉ là một lập trình viên bình thường khi ông bắt tay vào viết phần mềm này để chạy trên PC. Tuy nhiên, sau đó, khi lần đầu tiên công bố mã nguồn Linux trên Internet cho mọi người tham gia, ông đã trở thành một chuyên gia tư vấn giải quyết các lỗi lập trình. Dần dần, ông đã phát triển được một tổ chức hỗ trợ bao gồm các tình nguyện viên.
Ban đầu là một tập hợp của những tài năng, Linux hiện nay vẫn hoạt động theo cơ chế như vậy. Trong một thế giới mà mọi người đều có thể có các đoạn mã được tung ra, chỉ những chuyên gia hạng A+ mới xứng đáng và chỉ những lập trình viên giỏi nhất mới trở thành các trợ lý của Torvalds. Ông giải thích: “Các cộng sự của tôi được chọn lựa, nhưng không phải do tôi”.

Một lý do làm cho Linux Inc. ít tương đồng với các công ty truyền thống khác là bởi Torvalds không có vẻ gì giống một người lãnh đạo. Ông ít khi xuất hiện trước công chúng và phần lớn để mọi người tự xác định các mức ưu tiên phát triển. Một khi mọi người đưa ra các cải tiến, ông dẫn dắt họ. Havoc Pennington, một nhà phân phối Linux cho Red Hat nói: “Linux có sức mạnh nhưng Torvalds không đạt sức mạnh đó bằng mệnh lệnh. Ông ấy có quyền lực bởi mọi người tin tưởng ông ấy. Một khi ông ấy đưa ra những quyết định đúng đắn, mọi người sẽ không rời xa ông”.

Bất chấp tính thụ động nào đó, Torvalds vẫn là một thủ lĩnh mạnh mẽ. Ông đứng trung lập một cách thận trọng, không bao giờ đứng về một phía công ty nào để chống lại một công ty khác. Ông chú trọng vào tiến trình phát triển mã nguồn mở. Khi đó, ông chỉ yêu cầu chất lượng cao trong công việc. Mọi việc phải được giải quyết tốt với khối lượng mã tối thiểu. Kết quả là Linux có ít lỗi mà tin tặc có thể khai thác. Đây là một lợi thế so với Windows khi hệ điều hành này trở thành một miếng bánh ngon cho tin tặc - đa phần bởi vì nó được sử dụng rộng rãi, nhưng một phần khác cũng vì nó có những khe hở mà Linux không có. Larry Augustin, một nhà đầu tư của Azure Capital Partners và một thành viên của OSDL nói: “Ông ấy thiết lập được một tầm nhìn thuyết phục và truyền cảm hứng cho mọi người đi theo. Đó là sự lãnh đạo bằng minh chứng, chứ không phải thông qua cường điệu”.

Thậm chí hiện nay, Torvalds thực hiện việc điều hành trên một thế giới ảo với email và website. Ông làm việc chủ yếu ở nhà tại vùng núi phủ cây xanh ở Oregon. Hàng sáng ông dậy sớm, thưởng thức một tách cafe đậm cùng vợ và sau đó ngồi hàng giờ bên máy tính để duyệt các đoạn mã và trả lời các bức email. Ông cũng không quên các cuốn sách ưa thích của mình, nhất là cuốn Bánh xe Thời gian. Vào buổi chiều, Torvalds đi dạo bằng xe đạp, dừng chân làm một chén trà trước khi về nhà và ngồi vào máy tính.

Mặc dù Torvalds vẫn gần gũi với các cộng sự tại OSDL, nhưng ít khi ông gặp mặt họ. Ông ít khi gặp Morton, một người úc sống ở Silicon Valley. Torvalds ví cộng đồng Linux là một mạng nhện khổng lồ, hay đúng hơn, là nhiều mạng nhện đan xen giới thiệu các dự án mã nguồn mở liên quan. Và văn phòng của ông ở “gần nơi mà các mạng nhện đó giao nhau”.

Vòng quay liên tục

Quá trình phát triển của Linux bắt đầu và kết thúc với các lập trình viên. Mặc dù vẫn còn một số tình nguyện viên cá nhân và các cơ quan chính phủ tham gia, tuy nhiên hơn 90% các đoạn mã do các nhân viên của các công ty công nghệ viết ra. Một số người viết ra các đoạn mã, một số người khác, được gọi các “bảo dưỡng viên”, có trách nhiệm hoàn thiện các đoạn mã ấy.

Đó là một vòng quay liên tục. Các cá nhân đưa ra các đoạn mã, các “bảo dưỡng viên” chỉnh sửa chúng. Sau đó, các đoạn mã được gửi tới Torvalds và Morton, những người có nhiệm vụ duyệt chúng, yêu cầu cải tiến và cuối cùng là nâng cấp “nhân”. Cứ hàng bốn tới sáu tuần, Torvalds công bố một phiên bản thử nghiệm dành cho hàng ngàn người khắp nơi trên thế giới cùng nhận xét và tìm kiếm lỗi. Và Torvalds tung ra bản cập nhật tổng thể hàng ba năm một. Không giống như các công ty phần mềm truyền thống, không có giới hạn gì cho sự phát triển này. Nhân Linux sẽ hoàn thành khi Torvalds quyết định rằng nó đã hoàn thiện.

Linux Inc. là mô hình gồm các vòng tròn đồng tâm xung quanh Torvalds. Vòng trong cùng là OSDL. Các công ty công nghệ có liên quan tới Linux – trong đó có HP, IBM và Intel - đều có người tham gia ban giám đốc. Ban lãnh đạo này đưa ra các định hướng ưu tiên, chẳng hạn kế hoạch xây dựng một Linux tốt hơn cho các máy chủ trung tâm dữ liệu khổng lồ hoặc các dòng máy PC để bàn. Ngoài ra, ban lãnh đạo có trách nhiệm xây dựng một quỹ ngân sách 10 triệu USD để bảo vệ khách hàng trước những vấn đề liên quan tới sở hữu trí tuệ có thể phát sinh.

Vòng tròn thứ hai là hàng chục các nhà phân phối Linux. Đi đầu bởi Red Hat và Novell, nhóm này bao gồm cả các công ty khu vực như Red Flag Software của Trung Quốc và MandrakeLinux ở châu Âu. Hàng năm, các công ty này chọn phiên bản nhân mới nhất và đóng gói cùng với trên 1.000 chương trình mã nguồn mở, bao gồm giao diện đồ hoạ người dùng GNOME, trình duyệt Firefox và bộ ứng dụng văn phòng OpenOffice. Các nhà phân phối chạy đua để trở thành người đầu tiên tung ra các bản nâng cấp, nhưng các kỹ sư của họ lại dành phần lớn thời gian cho các dự án mà họ phối hợp với người khác.

Trên thực tế, Linux Inc. đã nổi lên như một mô hình mới, một cách thức phối hợp mới theo cách tạo nên một hệ sinh thái trong phát triển phần mềm. Điểm mấu chốt nằm trong khẩu hiệu của cộng đồng mã nguồn mở: “Cho một ít, anh sẽ nhận lại nhiều”. Khi đã thành trào lưu, nó thực sự đang đe dọa sự thống trị của các công ty như Microsoft.

(Theo businessweek)

Việc Phát triển LINUX ở Việt Nam



I. Mở đầu

Trong những năm gần đây, sách vở, báo chí Việt Nam đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích về hệ điều hành Linux. Ðặc biệt trong số đó là các bài báo đăng trên những tạp chí như "Tin học Ðời sống", "Thế gới Vi tính" đã góp phần không nhỏ vào việc giới thiệu Linux với quảng đại quần chúng. Trong bài báo này, chúng tôi trình bày thêm một số nét liên quan đến các vấn đề sau đây, để góp thêm một nhận định trong việc thúc đẩy sự phát triển Linux tại Việt Nam:

Ðiều kiện để một hệ điều hành thâm nhập vào đời sống xã hội.

Các phần mềm do Microsoft đưa ra thị trường được lấy ý tưởng từ đâu, tại sao lại được sử dụng rộng rãi và chiếm một thị phần lớn.

Khả năng và điều kiện để phát triển Linux ở Việt Nam.

Ðể hoà nhập với thế giới trong điều kiện còn khó khăn về kinh tế, nhưng không vi phạm nguyên tắc của một xã hội văn minh.

Một vài kiến nghị.

II. Ðiều kiện để một hệ điều hành xâm nhập vào đời sống xã hội

Hầu hết những người dân chúng ta khi đề cập đến lĩnh vực máy tính, những thành quả trong Tin học, thường cho rằng đây là lĩnh vực dành cho những chuyên viên có trí tuệ cao, có khả năng ngoại ngữ vững vàng - đặc biệt là vấn đề ngoại ngữ. Những nhận định đó hoàn toàn phiến diện, đôi lúc làm cho xã hội có một định hướng không đúng đắn khi cần vạch định chiến lược phát triển. Theo chúng tôi, người sử dụng những sản phẩm Tin học không đòi hỏi phải kiến thức ngoại ngữ uyên bác, và thậm chí, những người làm ra các sản phẩm này cũng vậy. Một bằng chứng hùng hồn là đại bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài đều theo ngành Tin học1, rất ít người trong số họ theo đuổi những ngành nghề đòi hỏi trình độ ngoại ngữ uyên thâm hơn như: Luật, Kinh tế, các ngành khoa học xã hội. Thêm vào đó, hầu hết những người có máy tính đều sử dụng hệ điều hành Windows, biết sử dụng WinWord để soạn thảo văn bản, nhưng trong số họ không phải ai cũng đều giỏi về Tiếng Anh.

Chính vì vậy, việc bản địa hoá một hệ điều hành, không phải là điều cần thiết trước mắt để nó xâm nhập vào đời sống xã hội. Hãng Microsoft cũng đã từng đầu tư công sức để bản địa hóa phần mềm Windows cho người Việt Nam sử dụng, nhưng rồi thử hỏi trong số chúng ta có ai đã sử dụng chúng cho công việc thường ngày. Trong khi đó với bộ công cụ Microsoft Office, hầu hết cơ sở mang tính văn phòng đều sử dụng và hầu hết các máy tính đều được cài đặt. Ngay cả trong Hội thảo này, các báo cáo cũng được soạn thảo bằng WinWord để gởi về cho Ban Tổ chức. Chính vì vậy, một phần mềm văn phòng phù hợp có các bộ chữ và cách gõ chữ cần thiết, sẽ thúc đẩy hệ điều hành phát triển, hơn là việc bản địa hóa các chức năng của hệ điều hành.

III. Sự ảnh hưởng của các sản phẩm do Microsoft xây dựng

Hãng Microsoft đã có đóng góp rất lớn trong việc làm cho các sản phẩm Tin học đã có, thêm cơ hội và điều kiện để xâm nhập vào xã hội. Chúng ta thử điểm qua các phần mềm hệ thống quan trọng sử dụng thường ngày, cho đến những công cụ phát triển.

Microsoft đã biến hệ điều hành UNIX quá cao siêu với xã hội vào thời điểm những năm đầu 80, để có được một MS/PC - DOS phù hợp hơn, không đi trước thời đại. Rồi sau đó, khi những giao diện hình tượng của Macintosh, của X Window System bắt đầu chớm nở trong các máy chuyên dụng, Microsoft Windows lại ra đời trên nền tảng của các ý tưởng đã có đó.

Vào cuối những năm 80, chúng ta thường được nhắc đến các phần mềm xử lý văn bản như Word Perfect, có mấy ai biết WinWord là gì. Nhưng rồi ngày nay có ai không sử dụng WinWord cho các công việc văn phòng thường ngày của mình. Mặc dù Word 2.0 còn thô sơ so với Word Perfect đã trở nên hoàn hảo vào thời điểm ban đầu, nhưng cái sự hoàn hảo chưa phải là nhu cầu của xã hội. Sự hoàn thiện dần sẽ được bổ sung vào khi nhu cầu con người đã nâng lên tương ứng, ngày nay MS Word 2000 đã hoàn thiện và đáp ứng hầu hết mọi yêu cầu của một phần mềm xử lý văn bản.

Chúng ta đã từng một thời nghe nói đến Lotus 1-2-3, “ ai cũng có thể học Lotus bởi nó dễ dàng như đếm 1, 2, 3”. Nhưng Quatro của Borland đã chinh phục bởi những giao diện đẹp mắt hơn. Microsoft với nền tảng của Quatro đã đưa ra phiên bản Excel phù hợp hơn, thêm vào đó sự độc quyền của Windows đã làm cho Quatro không còn vị thế. Lại một chiến công nữa của Microsoft trong lĩnh vực bảng tính điện tử.

Những năm gần đây, khi thời đại Internet bắt đầu lên ngôi, chúng ta thường nghe nói đến trình duyệt Web với tên gọi Netscape. Một lần nữa chiến thắng âm thầm về mặt xã hội lại thuộc về Internet Explorer. Nhưng hàm lượng trí tuệ chắc chắn không ai phủ nhận: luôn thuộc về trình duyệt Netscape Navigator.

Trên đây cũng chỉ mới điểm qua những phần mềm cơ bản, những chương trình tiện ích. Chúng ta thử nhìn qua vài công cụ phát triển phầm mềm. Những người viết chương trình chúng ta chắc ai cũng còn nhớ những cảm giác thích thú khi sử dụng phần mềm Side Kick để đồng thời trên máy vừa soạn thảo và vừa sửa đổi chương trình, rồi nhanh chóng biên dịch lại chương trình vừa sửa xong. Turbo Pascal đã ra đời với chỉ 39 Kbyte nhưng có thể làm luôn cả hai chuyện - soạn thảo và biên dịch. Giới lập trình chuyên nghiệp lại càng thích thú hơn khi có Turbo C 2.0. Nhưng những ý tưởng đó rồi cũng được Microsoft quan tâm, và Quick C ra đời trên nền tảng các ý tưởng Ctrl-F9, Alt-F5.

Với môi trường Windows, chúng ta đã từng thích thú với môi trường lập trình trực quan Borland Delphi 1.0 khi đã quá mệt mỏi với những chương trình C cùng với hàm WinMain() rườm rà. Nhưng sự mệt mỏi đó đã dần được khắc phục bởi sản phẩm chuyên nghiệp hơn đó là Visual C++ của Microsoft.

Gần đây, chúng ta thường được nhắc đến Visual J++, chắc chúng ta ai cũng có thể có được một so sánh với JBuilder của Inprice Inc. Và rồi đây tương lai Java của Sun Microsystem Inc. sẽ sánh bước như thế nào cùng với C # của Microsoft.

Mọi sự chế ngự và thống lĩnh nêu trên đều xuất phát từ nền tảng cơ bản nhất đó là hệ điều hành. Ai đã nắm được hệ điều hành, lịch sử đã chứng minh phần thắng thuộc về họ. Hãng IBM cũng đã một thời thống lĩnh bởi hệ điều hành OS/DOS của họ.

IV. Linux Việt Nam và sự hoà nhập với Thế giới

Trên đây chúng tôi đã điểm qua một vài nét về vai trò của hệ điều hành, cũng như sự đóng góp những thành bại của các sản phẩm ứng dụng. GNU-Linux là một cơ hội giúp cho chúng ta không phải lo toan từ đầu để có được mọi thứ. GNU-Linux cùng với Star Office, chúng ta có thể hoà nhập với thế giới trong điều kiện còn khó khăn về kinh tế, nhưng không vi phạm bản quyền, không thực hiện những hành vi bị phê phán trong một xã hội văn minh. Vấn đề còn lại mang tính giải pháp kỹ thuật đó là bộ chữ và bộ điều khiển gõ chữ tiếng Việt trên nền Linux. Ðây là hai vấn đề mang tính tiên quyết khi cần xây dựng hệ điều hành Linux cho Việt nam. Theo chúng tôi, đó cũng là điều kiện quyết định sự thành bại của hệ điều hành Linux Việt Nam.

V. Kiến nghị

Ðã có nhiều hệ điều hành khác nhau xâm nhập vào đời sống xã hội Việt Nam, chúng từ hệ điều hành OS chạy trên máy IBM 360/50I, DOS trên IBM 360/40, Solaris trên Intel PC, trên UltraSparc đến MS/PC - DOS, Linux, Windows trên PC. Nhưng cho đến thời điểm hiện nay, hai hệ điều hành được phổ biến đó là Windows và Linux. Chúng ta không thể cứ mãi sao chép phần mềm một cách bất hợp pháp để sử dụng. Nhưng ngược lại, chúng ta cũng không thể bỏ ra một khoản kinh phí khá lớn (cỡ bằng kinh phí mua một máy tính) để trang bị những phần mềm cần thiết. GNU-Linux là một cơ hội để chúng ta có được hệ điều hành cho Việt Nam.

Chúng tôi nhận thấy đã đến lúc Chính phủ cần phải có một chính sách thích đáng để đẩy nhanh việc xây dựng hệ điều hành Linux Việt Nam. Việc phát triển Linux phải được thực hiện bởi một đơn vị duy nhất.

Bên cạnh đó, cũng cần phải có chính sách độc quyền về phía Nhà nước sao cho sản phẩm tạo ra được áp dụng bắt buộc trong các cơ quan hành chánh sự nghiệp trong việc trao đổi văn thư, báo cáo.

Với sự độc quyền về hệ điều hành, Chính phủ nhanh chóng chọn lựa những đơn vị để phát triển phần mềm ứng dụng trên nền Linux./.


Trần Văn Lăng
Phân Viện Công nghệ Thông tin Tp. Hồ Chí Minh - Trung tâm KHTN & CNQG

Linux: Việt nam & Thế giới

Bùi Việt Hà Khoa Công nghệ Thông tin, Học viện Kỹ thuật Quân sự

Hệ điều hành Linux đang được thế giới Tin học quan tâm và chăm chú theo rõi đặc biệt. Không chỉ phải bởi nó là hệ điều hành miễn phí với mã nguồn mở duy nhất hiện nay, mà còn ở một đặc điểm khác nữa: Linux hiện đã trở thành một hệ điều hành phổ biến nhất trên phạm vi toàn thế giới. Theo đánh giá của một số chuyên gia, hiện có khoảng hơn 10 triệu người trên thế giới đã tham gia và gắn bó chiếc máy tính của mình với Linux. Vì sao Linux lại được quan tâm đặc biệt như vậy? Vì sao Linux lại hấp dẫn như vậy với các chuyên gia lập trình? Vì sao Linux lại có được sự phát triển mạnh mẽ như vậy trong những năm gần đây? Trong bài viết này, chúng tôi muốn trình bày cho các bạn một cái nhìn mới về Linux, không trên khía cạnh công nghệ, mà trên một tầm nhìn tổng thể hơn, bao quát hơn theo lịch sử phát triển của tin học. Ðặc biệt, chúng tôi sẽ phân tích sâu hơn đặc điểm chính nhất của Linux/GNU, đó là về tính “mở”, tính “tự do” tuyệt đối của hệ điều hành này. Phần cuối của bài viết sẽ có những liên hệ trực tiếp với hoàn cảnh của Việt nam hiện nay.

1. Linux và UNIX

Vào những năm 70 của thế kỷ này, thế giới đã chứng kiến một trào lưu phát triển rực rỡ của Tin học xung quanh hệ điều hành UNIX. Trong khoảng thời gian đó, hầu như toàn bộ các trường đại học trên thế giới, từ Mỹ đến Canada, từ Tâu Âu sang Nhật bản, từ Anh quốc đến Singapore, Từ Nauy đến Australia, khắp nơi đều nở rộ phong trào học, nghiên cứu và phát triển hệ điều hành UNIX. Vì sao UNIX lại có mặt ở khắp mọi nơi, trong mọi giảng đường như vậy? Câu trả lời thật đơn giản: Vì UNIX là hệ điều hành miễn phí với mã nguồn mở duy nhất trong thời gian đó. Có thể nói sự phát triển của hệ điều hành UNIX gắn liền với sự phát triển của khoa học và công nghệ Tin học trong suốt những năm 70 và kéo dài cho đến tận ngày hôm nay. Hệ thống mạng máy tính đã phát triển rất nhanh bắt đầu từ những năm 70 với các mạng riêng cho UNIX như USENET, CSNET, BITNET, EARN, NSFNET và rất nhiều các mạng khác đã xuất hiện trên qui mô toàn cầu, liên kết thế giới UNIX thành một hệ thống thống nhất. Có thể khẳng định không sai rằng mạng Internet toàn cầu không thể có sự phát triển tột bậc của ngày hôm nay nếu như không có trào lưu UNIX đã xảy ra trên thế giới vào những năm 70 này. Có thể nói UNIX là hệ điều hành khai sinh ra Internet.

Sau khi chiếc máy PC ra đời và đặc biệt khi các hệ điều hành cho PC phát triển rầm rộ thì người ta cảm thấy sự đi xuống của phong trào UNIX hóa như đã nói ở trên. Cảm tưởng rằng UNIX đã lép vế và bắt đầu đi xuống nhường chỗ cho những hệ điều hành PC mới nổi lên như DOS, OS/2, Netware, Windows, NT, ... Thế giới UNIX xưa bây giờ chỉ còn trong các máy tính lớn hoặc trong các trường đại học. Có phải thật như vậy không?

Tuy nhiên phong trào "UNIX" đã lại nở rộ lần thứ hai, lần này nó xuất hiện một cách bài bản hơn, nhanh hơn, quyết liệt hơn, bắt đầu từ khi Linux được tung ra lần đầu tiên vào năm 1991 bởi Linus Torvalds. Thế giới UNIX ngày hôm nay với Linux làm trung tâm đã và đang chứng kiến một sự phát triển nhanh nhất trong toàn bộ lịch sử phát triển của phần mềm nói chung và hệ điều hành nói riêng. Hàng chục triệu chuyên gia lập trình, và cả những người không cần có chuyên môn Tin học, hàng triệu Web site trên toàn thế giới đã và đang tham gia vào phong trào "Linux hóa" có qui mô và tốc độ phát triển chóng mặt trên toàn thế giới. Chưa bao giờ đội ngũ những người lập trình và phát triển hệ điều hành Linux lại mạnh, đoàn kết, nhất trí và đông đảo như hiện nay.

Giai đoạn phát triển thứ hai này của UNIX, được gọi là Linux/GNU đã và đang được toàn thế giới quan tâm. Sự quan tâm này không dừng lại ở phía các nhà lập trình, các công ty Tin học, mà về phía chính trị, nhiều chính phủ, quốc gia đã ra trận. Một loạt các chính phủ, quốc gia đã chính thức tham gia phong trào nhằm phát triển một hệ điều hành của riêng cho quốc gia mình. Chúng tôi sẽ còn quay lại chủ đề này trong các phần sau của tài liệu này.

2. Vì sao Linux?

Vì sao Linux ngày nay lại có sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ như vậy. Vì sao hầu như tất cả các chuyên gia dự đoán đều cho rằng Linux là hệ điều hành của tương lai? Vì sao UNIX có những lúc tưởng chừng như đã thất bại, thế mà lần sống thứ hai của mình lại phát triển không ngờ đến như vậy? Trong phần này chúng tôi đưa ra một số quan điểm, nhận định cho những câu hỏi trên.

Có thể nêu ra một số nguyên nhân và đặc điểm sau:

- Trước hết, Linux là một hệ điều hành mã nguồn mở và miễn phí. Bất cứ ai cũng có thể sao chép, tuyên truyền, phân tán, viết lại và phát triển hệ điều hành này. Cộng với khả năng liên kết mạng rộng khắp và toàn cầu như hiện nay, bất cứ ai cũng có thể tiếp cận, nghiên cứu, tìm hiểu hệ điều hành Linux. Ðặc điểm nổi bật này làm cho Linux ngày hôm nay khác hẳn với UNIX của 30 năm trước.

- Một điểm khác biệt rất quan trọng giữa hai trào lưu "UNIX xưa & Linux nay": Trước kia, UNIX ban đầu chỉ được thiết kế trên các máy tính lớn. Vào thời kỳ đầu phát triển UNIX, các máy tính PC chưa ra đời, các trường đại học và sinh viên bắt buộc phải nghiên cứu trên các máy tính lớn, do vậy tính phổ cập của các hệ điều hành UNIX này rất hạn chế. Ngược lại, Linux được Linus đưa ra trên nền tảng cơ bản là PC (cụ thể là Intel 80386) và do đó, Linux là hệ điều hành PC chính gốc.

Dựa trên đặc điểm thứ nhất đã nêu trên, Linux đã nhanh chóng phát triển trên thế giới PC, dành cho mọi người, mọi nhà, không phân biệt lứa tuổi, trình độ, đẳng cấp. Ngày nay, một cậu bé 10 tuổi mới bắt đầu học lập trình cũng có thể tạo ra cho mình hẳn một hệ điều hành hoàn chỉnh! Do đó, Linux có thể nói là PC UNIX, một hệ điều hành chuyên cho PC. Ðặc điểm cơ bản này có lẽ là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự bùng nổ của Linux như hiện nay.

- Một đặc thù khác biệt nữa giữa Linux hôm nay và UNIX của những năm 70 liên quan đến những quan niệm và luật bản quyền sở hữu trí tuệ của phần mềm. Khi phong trào phát triển UNIX bùng nổ, chưa có một luật lệ nào ràng buộc chặt giữa các công ty phát triển phần mềm thương mại và các viện, trường đại học nghiên cứu UNIX. Kết quả là chúng ta đã chứng kiến một sự phát triển rất không đồng bộ và "hỗn độn" của UNIX. Ðã có rất nhiều bản UNIX thương mại hóa ra đời (SUN, HP, IBM, DEC, SCO...) và bên cạnh đó lại có những phiên bản miễn phí của hệ điều hành này. Và điều đặc biệt là chúng lại không hoàn toàn tương thích với nhau.

Chính sự phát triển không đồng bộ này đã cản trở sự phát triển và thống nhất ngay trong chính bản thân các nhà lập trình phát triển UNIX. Ngày nay Linux đã có một thể chế luật pháp hoàn toàn khác hẳn. Linux ra đời và phát triển trong khuôn khổ chương trình GNU, một chương trình phát triển rất nhanh và ngày nay đã trở thành một phong trào mang tính quốc tế sâu rộng. Linux chính là cái "lõi" của hiệp hội GNU này. Chúng tôi sẽ trình bày kỹ về GNU trong mục sau. Chỉ nhắc lại ở đây rằng chính nhờ có GNU, sự phát triên của Linux ngày nay đảm bảo sự thống nhất, đoàn kết của cộng đồng những cá nhân và tổ chức phát triển Linux. Có thể có hàng triệu chuyên gia lập trình cùng đồng thời nghiên cứu và phát triển Linux. có thể có hàng trăm công ty thương mai đưa ra thị trường các hệ điều hành "kiểu Linux" khác nhau, nhưng tất cả chúng đều có chung và thống nhất một lõi của hệ điều hành, đó là Linux.

- Vấn đề cuối cùng chúng tôi muốn nói ở đây, có liên quan đến một trong những sự kiện nổi bật nhất của công nghiệp phần mềm trong một vài năm trở lại đây, đó là sự kiện về sự phát triển mạnh mẽ không ngờ của Microsoft với hệ điều hành Windows và vụ án thế kỷ liên quan đến luật chống độc quyền của Mỹ. Không chỉ riêng nước Mỹ, mà toàn thế giới đã từ lâu quan sát và nhận ra thế mạnh độc quyền của Microsoft với hệ điều hành Windows trên các máy tính PC. Theo thời gian, Microsoft đã lần lượt đánh bại tất cả các đối thủ cạnh tranh của mình, đó là IBM với OS/2, đó là Apple với Mac, đó là Sun với Solaris, đó là Novell với Netware,...Microsoft với ông "vua" của mình, Bill Gate, đã trở thành người giàu có nhất hành tinh, còn trong thế giới phần mềm, người ta gọi ông ta và hãng của mình là "Quỉ Sa tăng”. Mỗi khi Microsoft càng trở nên mạnh, càng trở nên độc quyền thì những người ủng hộ cho Linux càng đoàn kết lại, trở thành một lực lượng đối trọng duy nhất của Windows. Ðây có lẽ cũng là một nguyên nhân làm cho Linux càng ngày càng trở nên hấp dẫn hơn, càng có nhiều người tham gia và phát triển nhiều hơn. Linux cùng với GNU đã trở thành một trào lưu, một xu thế không thể cưỡng lại được của Tin học trong thời đại ngày nay.

Ðể lý giải cho sự thành công hiện nay của Linux, nhiều người đã phải vin vào các lý do định mệnh. Thật vậy có rất nhiều yếu tố được kết hợp một cách ngẫu nhiên và hài hòa đến kỳ lạ. Nếu như Linus viết và đưa ra Linux chỉ một vài năm sớm hơn thôi, khi mạng Internet chưa phát triển như vậy thì không hiểu Linux sẽ đi đến đâu.

Người ta lo sợ rằng nếu như vậy Linux sẽ nhanh chóng bị quyên lãng. Một điều kỳ diệu khác nữa: khi Linus Torvalds đưa ra phiên bản Linux lần đầu tiên đúng vào thời điểm cộng đồng GNU và toàn thế giới đang rất mong chờ một hệ điều hành như vậy, vào thời điểm đó một tư duy bình thường cũng chỉ ra được rằng Linus sẽ là tỷ phú đô la trong một thời gian ngắn sắp tới. Thế nhưng, tính "ngang ngạnh" và "bất bình thường" của chàng sinh viên Phần lan đã đưa anh đến một quyết định "kỳ quặc", đó là miễn phí hoàn toàn với mã nguồn mở. Ðiều kỳ diệu này ngày hôm nay chúng ta mới thấm hiểu.

Còn một điều nữa cũng kỳ lạ không kém, đó là việc Linus đã chọn "nhầm" con chíp 80386 làm tiền đề cho hệ điều hành của mình. Trên thực tế, Linus chỉ đơn giản là muốn viết một hệ điều hành cho riêng mình, vào thời kỳ đó chip 80286 đang là phổ biến và dễ hiểu, còn 80386 còn mới mẻ. Rất nhiều người đã khuyên Linus chọn 80286 để thuận tiện hơn khi viết. Thế nhưng Linus đã chọn 80386, để ngày hôm nay chúng ta có một hệ điều hành đa nhiệm thực sự.

3. GNU và Quĩ phần mềm Tự do

3.1. GNU là gì?

Khi nhắc đến Linux, người ta không thế không nhắc đến GNU, bởi vì Linux là một trong những thành phần hay yếu tố cơ bản của GNU, hay nói cách khác, Linux là cái lõi chính của GNU. Bản thân tổ chức GNU được sinh ra trước nhiều năm so với Linux. Tuy nhiên chỉ sau khi cái lõi Linux ra đời, GNU mới có được sự phát triển mạnh mẽ như hôm nay. Vậy GNU là gì? Các bạn sẽ được tìm hiểu ngay bây giờ về GNU.

Có thể có nhiều cách nói và định nghĩa về GNU:

- GNU là một tổ chức tự nguyện của các nhà lập trình phát triển các phần mềm miễn phí trên nền hệ điều hành Linux và các ứng dụng của nó.

- GNU là tập hợp các phần mềm miễn phí tương thích với UNIX và dựa trên lõi là hệ điều hành Linux.

- GNU là tên gọi chung cho tất cả các phần mềm được viết trên nền Linux và được phát hành miễn phí theo các điều kiện của tổ chức GNU.

- GNU là một hệ thống các ứng dụng trọn gói và đầy đủ từ hệ điều hành cho đến các ứng dụng hoàn chỉnh được đưa ra trên nguyên tắc miễn phí với mã nguồn mở nằm trong hệ thống qui định của GNU.

GNU lần đầu tiên được thiết lập vào năm 1983 do ông Richard Stallman khởi xướng. Xuất phát từ nhóm lập trình viên trên UNIX vào đầu những năm 70, Richard Stallman luôn theo đuổi mục đích lấy sự phát triển phần mềm làm chính. Ông là người chứng kiến những phát triển và thăng trầm của làn sóng UNIX lần thứ nhất. Và ông cũng chính là người có những ý kiến, những suy nghĩ, trăn trở táo bạo của triết lý phần mềm miễn phí. Ông đã viết rất nhiều bài tranh luận về đề tài luật sở hữu trí tuệ đối với phần mềm, về cái gọi là độc quyền của các phần mềm thương mại, về quyền được miễn phí của phần mềm. Chính ông là người đã viết bài “Hiệu triệu GNU” lần đầu tiên vào năm 1983 và lời tuyên bố này là khai sinh của tổ chức GNU sau này. Tên ban đầu do Richard Stallman đặt ra là "Dự án GNU" nhằm kêu gọi sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân cho phong trào này. Cái tên "Dự án GNU" hãy còn cho đến tận hôm nay, nhưng ý nghĩa của nó đã vượt xa ra khỏi tầm của một tổ chức nhỏ.

GNU được đặt tên theo kiểu chơi chữ của tiếng Anh GNU's Not UNIX (GNU không phải là UNIX).

Năm 1985, dự án GNU đã khởi tạo Quĩ phần mềm Tự do (FSF - Free Software Foundation) nhằm tạo một quĩ chính thức cho phần mềm miễn phí (chúng tôi sẽ định nghĩa lại chính xác khái niệm phần mềm Tự do và Phần mềm Miễn phí ở các mục sau, còn bây giờ chúng ta vẫn dùng chúng xen kẽ mà không cần phân biệt giữa chúng).

Quĩ FSF có nhiệm vụ bảo đảm tài chính cho các hoạt động sáng tạo phần mềm của GNU. GNU không hạn chế bởi bất cứ điều kiện nào. Bất cứ ai chỉ cần chấp nhận các điều kiện về phần mềm miễn phí của GNU (GPL - General Public License) đều có thể tham gia được với GNU.

Một trong những mục đích chính của GNU là đảm bảo được tính Tự do của các phần mềm của mình. Tính tự do này phải được hiểu một cách tuyệt đối. Do vậy bất cứ ai khi đã có trong tay (bằng cách nào không quan trọng) một phần mềm của GNU, người đó đều có các quyền tự do tuyệt đối đối với phần mềm này. Hay nói một cách khác, GNU đặt ra một nguyên tắc cơ bản là tất cả các phần mềm của GNU phải được hưởng các quyền như nhau của mọi công dân trên trái đất. Ðối với các phần mềm của GNU, không thể có khái niệm là ai được hưởng các quyền lợi nhiều hơn ai (mặc dù tác giả, bản quyền ghi nhớ của chúng phải được tôn trọng), tất cả mọi công dân trên trái đất phải bình đẳng tuyệt đối như nhau đối với phần mềm của GNU.

Có thể khẳng định ngay rằng những ý tưởng táo bạo của GNU thực sự là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực luật pháp của sở hữu trí tuệ. Không nên nhầm lẫn rằng GNU hủy bỏ các thông ước quốc tế thông thường về luật bản quyền sở hữu trí tuệ.

Tất cả các phần mềm của GNU đều là các phần mềm có bản quyền và quyền này được đảm bảo bởi hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ quốc tế. Tuy nhiên điều khác biệt cơ bản nhất giữa các phần mềm GNU với các phần mềm thương mại khác là GNU không hạn chế bất cứ quyền nào của người sử dụng và yêu cầu những người này khi truyền bá các sản phẩm này cũng phải tuân thủ những điều kiện "ngặt nghèo" đó của GNU.

Thời gian đầu GNU chỉ thực hiện việc viết các phần mềm ứng dụng và công cụ trên nền UNIX. Các ứng dụng bao gồm bộ công cụ lập trình GNU C++, các tiện ích và ứng dụng trên nền UNIX. Tuy nhiên một hệ điều hành lõi thì phải đợi đến năm 1992, khi Linus Torvalds đưa ra thì GNU mới thực sự trở thành một hệ thống phần mềm khép kín bao gồm hệ điều hành và các ứng dụng.

3.2. Triết lý của GNU

GNU được Richard Stallman sáng lập và phát triển dựa trên các triết lý sâu sắc về bản quyền phần mềm, về khái niệm quyền tự do của phần mềm, quan hệ tương tác giữa tác giả của phần mềm và xã hội. Ðây là một vấn đề hết sức tế nhị và đang gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên phải công nhận rằng những triết lý của GNU là thật sự cách mạng và có nhiều điểm hợp lý không thể phủ nhận.

- Theo Stallman, việc các phần mềm thương mại hiện nay khi đưa ra thị trường, mọi quyền hạn đối với phần mềm này được tác giả (hay bản hãng) giữ độc quyền (all rights reserved), do đó luật bản quyền hiện tại trên thế giới đã mặc định bảo vệ sự “độc quyền” này, một khái niệm không phù hợp đối với lý tưởng "dân chủ” của thế giới ngày nay.

- Các sản phẩm phần mềm Tin học trên một nghĩa nào đó là tương tự như các thiết bị phần cứng. Sau khi mua một thiết bị phần cứng (chẳng hạn một chiếc máy in), người mua trên thực tế đã có toàn quyền với thiết bị đó. Anh ta có thể cho, bán lại mà không cần xin phép bất cứ ai. Thế nhưng đối với phần mềm thì không được như vậy. Do đó luật bản quyền hiện tại đã tạo ra những bất bình đẳng nghiêm trọng giữa các sản phẩm phần mềm và các sản phẩm thiết bị khác.

- Bản chất của các phần mềm Tin học là thông tin, chúng khác hẳn so với các thiết bị phần cứng. Việc hạn chế các quyền phát triển và truyền bá các thông tin này đến tay những người khác sẽ cản trở sự phát triển chung của xã hội, cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp phần mềm và thậm chí ảnh hưởng đến chính tác giả và chủ sở hữu của phần mềm.

Stallman có đưa ra một vài ví dụ có tính chất minh họa khẳng định cho những triết lý của mình. Chúng tôi sẽ trích ra đây một vài trong chúng mang tính tham khảo vui và thư giãn.

Minh họa 1: Với luật bản quyền hiện tại, bạn hãy hình dung một điều luật sau: Chỉ cho phép người mua bánh ngọt bỏ cả chiếc bánh vào mồm, nhai và ... nuốt, cấm không được bẻ ra thành nhiều miếng, cấm không được đưa vào phòng thí nghiệm kiểm tra chất lượng, cấm không được đưa cho người khác xem hoặc nếm thử, vân vân và vân vân.

Minh họa 2: Việc kiểm soát sử dụng bản quyền phần mềm giống như kiểm soát đường giao thông trong thành phố. Giả sử trong thành phố có nhiều đoạn đường phải đi một chiều, do sự vi phạm giao thông quá nhiều, cách giải quyết là gi? Theo lý luận của luật hiện tại, cần tạo ra thật nhiều các bốt cảnh sát tại các ngã tư và kiểm soát chặt chẽ vi phạm giao thông trên đường. Còn theo triết lý của GNU thì cách tốt nhất là hãy hủy bỏ tất cả các qui tắc đi một chiều trong thành phố và do vậy không cần một bốt cảnh sát nào cả.

Cũng theo Stallman, việc thực thi chặt chẽ luật sở hữu trí tuệ hiện tại sẽ mang lại những tác hại sau cho xã hội:

1. Tác hại về phía người tiêu dùng sử dụng sản phẩm

Sẽ có càng ngày càng ít người sử dụng thật sự các sản phẩm phần mềm. Một phần do khía cạnh tâm lý, nhưng lý do cơ bản là các phần mềm bản quyền sẽ có rất ít cơ hội để tự động nâng cấp, điều chỉnh, bảo hành và bảo dưỡng sản phẩm. Trên thực tế, việc khắc phục lỗi sinh ra khi sử dụng phần mềm rất ít khi được thỏa mãn bởi nhà sản xuất.

2. Tác hại đối với những người thiết kế và phát triển sản phẩm

Theo quan điểm của luật sở hữu trí tuệ hiện thời việc ngăn cấm sao chép, phát triển sản phẩm sẽ đảm bảo quyền lợi kinh tế của người thiết kế và chủ sản phẩm do đó kích thích sự phát triển của đội ngũ lập trình. Tuy nhiên theo GNU thì tác động thực sự sẽ theo chiều ngược lại. Mặt khác do mã nguồn của phần mềm chỉ dành riêng cho chủ sở hữu, do đó sẽ xuất hiện nhiều các hiện tượng nhiều phần mềm có chung một chức năng, điều này sẽ dẫn đến sự lãng phí đối với những người thiết kế và lập trình bởi họ sẽ phải nghiên cứu từ đầu mà đáng lẽ ra có thể tiết kiệm hơn công sức của mình.

3. Tác hại đối với quan hệ xã hội

Các bạn hãy hình dung câu truyện sau: một người đang ăn một cái bánh ngọt nói với một người đứng bên cạnh mình: "Tớ đang ăn cái bánh thật, do đó không thể cho cậu nếm thử được. Làm như vậy là phạm pháp. (Nếu tớ ăn cái bánh thử, tớ sẽ cho cậu nếm ngay!). Nếu cậu muốn nếm thử hãy ra cửa hàng chỉ cách đây 10 cây số thôi mà, ở đó cậu sẽ được nếm các loại bánh thử miễn phí." Câu truyện trên tuy có phóng đại nhưng nó cho ta một hình dung cụ thể rất sinh động về bức tranh quan hệ xã hội đối với luật bản quyền hiện hành. Theo GNU, những luật kiểu như vậy sẽ phá hoại các quan hệ đạo đức của xã hội, gây ra những bất đồng, mâu thuẫn không đáng có giữa con người với con người. Và do đó trên phương diện tổng thể nó có hại đối với xã hội.

3.3. Các quyền hạn của người sử dụng (Freedom)

Khi một người nhận được một phần mềm nào đó, không liên quan đến phần mềm này là của ai và được phát hành thế nào, các khái niệm hay quyền hạn sau được đưa ra bởi Stallman. Phải nhấn mạnh ở đây từ “quyền hạn” hiểu theo nghĩa “quyền tự do" (freedom).

Quyền 0: quyền chạy (run) phần mềm với đầy đủ các chức năng sẵn có của phần mềm này.

Quyền 1: quyền nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích, đánh giá và nếu cần có thể điều chỉnh chương trình cho thích hợp. Ðể có được quyền này, điều kiện tiên quyết là mã nguồn chương trình phải mở.

Quyền 2: Quyền sao chép, phân tán các bản sao của chương trình cho người khác.

Quyền 3: Quyền thay đổi, sửa chữa, nâng cấp và đưa ra các sản phẩm nâng cấp này cho xã hội nhằm mục đích nâng cao tính sử dụng của chương trình. Ðể có được quyền này, điều kiện tiên quyết là mã nguồn chương trình phải mở.

So sánh với các luật hiện thời của sở hữu trí tuệ, một người khi mua một phần mềm có bản quyền, anh ta chỉ có đúng một quyền đó là Quyền 0 đối với sản phẩm, các quyền còn lại (từ 1 đến 3) là dành riêng cho chủ sở hữu của sản phẩm.

3.4. Phân loại phần mềm

Có nhiều cách phân loại phần mềm. Ví dụ có thể phân loại theo cách mà phần mềm được bán ra: miễn phí hoặc có phí. Cũng có thể phân loại theo cách đăng ký bản quyền của phần mềm: phần mềm có hoặc không có bản quyền (copyright).

Chúng tôi sẽ đưa ra ở đây cách phân loại theo luật sở hữu trí tuệ phần mềm, hay nói cách khác phân loại theo độ “Tự do” của phần mềm trên các quan điểm của GNU.

Trên phương diện tổng thể phần mềm sẽ được chia làm hai loại: Phần mềm Tự do và Phần mềm Không Tự do (Free Software & None-Free Software).

- Phần mềm Tự do là phần mềm mà người sử dụng hợp pháp của phần mềm sẽ có đủ cả 4 quyền tự do như đã nêu ở phần trên. Các phần mềm không là Tự do sẽ thuộc loại Không Tự do.

1. Phần mềm Không Tự do (None Free Software)

Các phần mềm Không Tự do đều là những phần mềm có chủ sở hữu và có bản quyền được đăng ký. Trong nhóm các phần mềm Không Tự do có thể kể tên một vài loại phần mềm như sau:

Phần mềm Miễn phí (Freeware) - phần mềm được phát hành miễn phí. Tuy nhiên thông thường người sử dụng chỉ có quyền hạn 0 và 2 đối với phần mềm này.

Phần mềm Chia sẻ (Shareware) - phần mềm được phát hành thông qua việc sao chép và tải xuống từ mạng tự do để dùng thử nhưng khi sử dụng phải đăng ký và nộp phí đăng ký sử dụng. Người sử dụng nói chung cũng chỉ có quyền 0 đối với phần mềm loại này.

Phần mềm Ðóng (Closed) - là phần mềm có bản quyền hiểu theo nghĩa thông thường. Ðể có được đăng ký, người sử dụng phải trả tiền trước và chỉ có đúng một quyền là Quyền 0 đối với phần mềm (tuỳ theo từng hãng và từng sản phẩm, các quyền này có thể thay đổi đôi chút nhưng những nét chính là không thay đổi).

2. Phần mềm Tự do (Free Software)

Trong các phần mềm Tự do lại được chia làm hai loại: phần mềm Không Ðăng ký Bản quyền (not copyrighted) và phần mềm Có Ðăng ký Bản quyền (copyrighted).

Phần mềm Tự do không đăng ký bản quyền thường được gọi là Phần mềm Công cộng (Public Software).

Chúng ta sẽ đặc biệt quan tâm đến nhóm các phần mềm Tự do Có Ðăng ký Bản quyền. Nhóm này được gọi là Free Copyrighted Software, Linux là phần mềm trong nhóm này. Giả sử một phần mềm S nằm trong nhóm này (Tự do Có Bản quyền), khi phần mềm S này được tung ra thị trường, có thể miễn phí hoặc có phí, nhưng điều kiện tối thiểu của nó bao gồm:

- Ðây là phần mềm có tác giả và được đăng ký bản quyền, không ai được tước đoạt đi quyền này từ tay tác giả hoặc bản hãng (điều kiện Copyrighted).

- Phần mềm này bắt buộc phải thuộc loại mã nguồn mở, tức là khi chuyển giao sản phẩm phải bao gồm toàn bộ mã nguốn bỏ ngỏ cho người mua (điều kiện Free).

- Khi một khách hàng A mua sản phẩm phần mềm S, khách hàng A này sẽ phải có đủ tất cả các quyền hạn từ 0 đến 3 đối với sản phẩm này (điều kiện Free). Khi khách hàng A có quyền 2 đối với sản phẩm S, A có quyền chuyển giao, sao chép phần mềm S (có thể sau khi đã thay đổi bản thân S) cho một khách hàng thứ ba, ví dụ là B. Ðiều mà chúng ta quan tâm là khi đó khách hàng B sẽ được hưởng các quyền tự do gì đối với sản phẩm S. Rất có thể xảy ra, sau khi A đã thay đổi một vài chỗ của sản phẩm S, thì A sẽ tuyên bố rằng sản phẩm S là của mình và sẽ đặt các điều kiện ràng buộc cho khách hàng B, và do đó quyền tự do của sản phẩm S khi đến tay khách hàng B đã bị mất hiệu lực. Do đó tính "Tự do" của sản phẩm S không là tuyệt đối và bình đẳng với mọi khách hàng của mình.

Trên thực tế đã từng xảy ra các hiện tượng như trên: Nhóm các phần mềm Xfree86 thuộc X windows khi được tung ra thị trường là các phần mềm Tự do. Tuy nhiên sau này một số công ty đã sử dụng mã nguồn của các phần mềm này, điều chỉnh và nâng cấp thành các phần mềm có bản quyền sở hữu và không còn là tự do nữa.

Ðối với Linux/GNU, hiện tượng trên cần phải loại bỏ tận gốc. Stallman là người đầu tiên đưa ra khái niệm phần mềm Copyleft (tạm dịch là Bản quyền Trái) nhằm loại bỏ các khả năng xảy ra tương tự như với các phần mềm Xfree86 đã nhắc ở trên.

Phần mềm Bản quyền Trái (Copyleft) là một loại phần mềm Tự do có Bản quyền kèm thêm điều kiện đặc biệt "ngặt nghèo" sau khi có sự chuyển giao sở hữu từ người này sang người khác: Khi chuyển giao phần mềm từ tay người thứ nhất (A) sang người thứ hai (B) thì phải đảm bảo rằng người thứ hai (B) vẫn phải có đủ tất cả các quyền tự do (từ 0 đến 3) đối với phần mềm này.

Như vậy phần mềm thuộc loại Copyleft mới thực sự là phần mềm đảm bảo được tính tự do tuyệt đối của người sử dụng. Ðối với phần mềm thuộc loại Copyleft sẽ không còn khái niệm Chủ sở hữu của phần mềm nữa. Tất cả mọi công dân trên trái đất đều thực sự bình đẳng tuyệt đối đối với các phần mềm này. Tuy nhiên chú ý rằng mặc dù không còn khái niệm chủ sở hữu nữa nhưng khái niệm Tác giả đối với loại phần mềm này vẫn còn. Stallman có đề nghị cách ghi trên nhãn của phần mềm này như sau: Copyleft (C) by ...(tên tác giả)... Ví dụ ta có thể viết: Linux Kernel 2.2.14, Copyleft (C) 1993 by Linus Torvalds.

Các phần mềm thuộc nhóm Linux/GNU đều nằm trong loại Copyleft như theo định nghĩa trên. Ðiều đó khẳng định tính tự do tuyệt đối của những phần mềm và tác giả theo phong trào Linux.

Trong thời gian một vài năm trở lại đây, do xu hướng phát triển mạnh mẽ của Linux, một số công ty và tổ chức có đề nghị sửa cụm từ Phần mềm Tự do thành Phần mềm Mã nguồn Mở (Open Source Software). Tuy nhiên cũng theo Stallman, không nên dùng cụm từ Phần mềm Mã nguồn Mở, vì nó không phản ánh đúng thực chất của Phần mềm Tự do, gây ra sự không hiểu đúng hoặc sai về GNU/Linux. Thậm chí ông cảnh báo rằng một số người muốn thay đổi như vậy thực chất là che dấu ý đồ muốn kiếm chác và sinh lợi từ Linux mà thôi.

Mô hình phân loại phần mềm được mô tả trong hình vẽ sau:

GNU GPL - GNU General Public License - Quyền Sở hữu Công cộng phần mềm của GNU

Quyền Sở hữu Công cộng phần mềm (GPL) được GNU đưa ra nhằm "áp đặt" cho tất cả các phần mềm thuộc dự án GNU. Mục đích duy nhất của GPL nhằm đảm bảo tính tự do tuyệt đối của các phần mềm của mình.

Ðể xem được đầy đủ GNU GPL bạn có thể tham khảo tại địa chỉ Internet http://www.gnu.org, trong phần này chúng tôi chỉ tóm tắt các điều khoản chính của Quyền Sở hữu Công cộng phần mềm GNU.

Quyền Sở hữu Công cộng GNU - GPL được áp dụng cho hầu hết các phần mềm được phát hành bởi Quĩ phần mềm tự do FSF và cho mọi người sử dụng các phần mềm này. Ðể chỉ người được cấp phép ta dùng từ "Bạn", còn các phần mềm của GNU chúng ta sẽ gọi là "Chương trình".

1. Bạn có quyền sao chép và phân tán mã nguồn của Chương trình trên mọi phương tiện với điều kiện là Bạn phải ghi rõ bản quyền, tác giả tương ứng theo mỗi sao chép của Chương trình. Bạn phải nêu rõ cho người nhận các điều khoản liên quan của Quyền Sở hữu Công cộng phần mềm này và sao chép cho họ một bản (GPL).

2. Bạn có thể sao chép một phần hay toàn phần mã nguồn của Chương trình, có thể thay đổi và phân tán các thay đổi này theo các điều khoản của 1 và hơn nữa phải tuân thủ thêm toàn bộ các điều khoản sau:

a. Bạn nhất thiết phải chỉ rõ các file nào đã bị thay đổi và ngày được thay đổi.

b. Toàn bộ các công việc liên quan đến sự thay đổi này Bạn phải phân tán, công bố hoặc xuất bản chúng miễn phí với toàn bộ Bản quyền Sở hữu Công cộng của GNU cho người nhận.

c. Nếu chương trình đã thay đổi này là tương tác trực tiếp với người sử dụng, bạn phải đưa vào chương trình phần thông báo về bản quyền, bảo hành và cho phép người sử dụng chúng có toàn quyền sao chép và phân tán theo các điều khoản của Bản quyền Sở hữu Công cộng này.

3. Bạn có thể sao chép, phân tán Chương trình và các module của nó dưới dạng Mã đã dịch (object code) theo các điều khoản 1 và 2 đã nói ở trên và phải tuân thủ thêm tối thiểu một trong các điều khoản sau:

a. Bạn phải phân tán kèm theo mã nguồn mở đầy đủ của các module chương trình này và chúng cũng phải được tuân thủ các điều khoản 1 và 2 đã trình bày ở trên.

b. Bạn phải ghi rõ thành văn bản, với thời hạn hiệu lực tối thiểu 3 năm, giấy báo giá tính chi phí cho người nhận với phí không vượt quá giá thành sao chép, đóng gói cùng với toàn bộ mã nguồn mở và người nhận được phép sao chép, phân tán các module mã nguồn này theo các điều khoản 1, 2 đã nói ở trên.

c. Trường hợp Bạn nhận được sản phẩm như điều khoản b thì khi phân tán phải ghi rõ các thông tin như khi bạn đã nhận được (chỉ áp dụng cho các đối tượng không phải là thương mại).

4. Bạn không được sao chép, thay đổi, phân tán và cấp phép các Chương trình không nằm trong các điều khoản của Bản quyền Sở hữu Công cộng này.

5. Nếu bạn không đồng ý với các điều khoản của bản Quyền Sở hữu Công cộng này, bạn sẽ không được cấp bất cứ một quyền hạn nào đối với các Chương trình nằm trong khuôn khổ của GNU, nếu vi phạm bạn sẽ chịu sự trừng phạt của pháp luật hiện hành về bản quyền sở hữu trí tuệ.

6. Mỗi khi bạn sao chép hay phân tán Chương trình hay Module theo các điều khoản 1, 2, 3 trên đây, người nhận sẽ tự động được cấp phép của quyền Sở hữu Công cộng. Bạn không được đặt thêm bất cứ một quyền nào đối với các quyền này và không được phép liên kết với bất kỳ một ai để đặt ra các hạn chế khác đối với các phần mềm này.

7. Trường hợp bạn không thể sao chép, phân tán chương trình hay module thỏa mãn đồng thời các điều khoản của Bản quyền Sở hữu Công cộng này và các hạn chế khác của chương trình thì có nghĩa là bạn sẽ không có bất cứ quyền gì đối với các chương trình hay module này.

8. Trường hợp việc sao chép, phân tán bị hạn chế bởi các quyền sở hữu trí tuệ của các quốc gia khác thì khi phân tán, bạn phải ghi rõ thêm một điều khoản hạn chế không gian địa lý của việc phân tán và sao chép này.

9. Quĩ phần mềm Tự do FSF được toàn quyền điều chỉnh, sửa đổi các điều khoản của Bản quyền Sở hữu Công cộng này. Bạn cần sử dụng phiên bản mới nhất của GPL để áp dụng trên thực tế.

10. Nếu bạn muốn chuyển các phần mềm thuộc phạm vi của GPL này sang một nhóm Phần mềm Tự do khác, hãy viết yêu cầu của mình về Quĩ Phần mềm Tự do FSF. Chúng tôi sẽ xem xét và quyết định dựa trên lợi ích tối đa của người sử dụng và người phát triển phần mềm.

Chú ý: Ðiều 7 được nêu ra để phòng ngừa trường hợp các mã nguồn của một số chương trình có sử dụng các công nghệ đã được đăng ký bằng sáng chế (patent). Ðây là một trong những điều "bất cập" nhất của các phần mềm Tự do: trên nguyên tắc, khi công bố các phần mềm tự do, chúng phải không chứa bất cứ mọi công nghệ đã được đăng ký patent của một cá nhân hay công ty thương mại nào (hoặc phải được tác giả của bằng sáng chế đó cho phép sử dụng). Bản thân GNU và Stallman đã đề nghị và tranh luận nhiều về đề tài này. Ðiều khoản về sở hữu bằng sáng chế đã hạn chế rất lớn sự phát triển của các phần mềm tự do. Ví dụ khi bàn về việc trừng phạt Microsoft trong vụ kiện thế kỷ vừa qua, Stallman đã đề nghị phương án trừng phạt Microsoft bằng cách bắt Microsoft công bố các thông số kỹ thuật của các công nghệ chính của mình và Microsoft phải cho phép các công ty khác sử dụng các patent của mình.

4. Linux và GNU

Hệ điều hành (hay đúng hơn là lõi của hệ điều hành Linux) được Linus Torvalds đưa ra vào năm 1991, hoàn chỉnh phiên bản đầu tiên vào năm 1992. Ngay từ đầu Linus có một vài quan điểm khác với GNU, nhưng sau đó, tác giả đã nhất trí để Linux được đưa ra trong khuôn khổ của GNU và GNU GPL. Như vậy Linux là hệ điều hành lõi và duy nhất của GNU. GNU sẽ có nhiệm vụ phát triển bản thân lõi và các ứng dụng trên nền hệ điều hành Linux.

Khi đưa ra lần đầu tiên, Linus Torvalds đã đề nghị rằng Linux không những là một hệ điều hành miễn phí với mã nguồn mở, mà những người phát triển và truyền bá Linux cũng không thể được có bất cứ một hoạt động nào sinh lợi nào từ hệ điều hành này. Yêu cầu trên của Linus Torvalds không phù hợp với qui định của GNU GPL. Một thời gian ngắn sau, Linus đã đồng ý thay đổi lại quan điểm của mình và đưa Linux vào khuôn khổ của đự án GNU.

Cho tới thời điểm hiện tại, GNU đã thực sự lớn mạnh trở thành một xu thế có qui mô toàn cầu. Còn Linux đang được đánh giá là hệ điều hành phát triển nhanh nhất và phổ biến nhất hiện nay trên thế giới.

Linux là một cấu thành không thể tách rời khỏi GNU, và ngược lại GNU phát triển hoàn toàn dựa trên lõi là Linux. Do vậy Linux và GNU thực chất là một thực thể thống nhất.

Một đặc điểm quan trọng của GNU/Linux là tất cả những ai tham gia phát triển các ứng dụng trên Linux đều phải tuân thủ theo nguyên tắc của Bản quyền Sở hữu Công cộng GPL - General Public License.

Như vậy Linux và GNU là một và người ta thường nhắc đến cả cụm từ Linux/GNU hoặc GNU/Linux.

Ðể xem thêm thông tin về tổ chức, hoạt động, các dự án, phần mềm liên quan đên GNU/Linux xin mời vào thăm trang Web chủ http://www.gnu.org của tổ chức này.

5. Thế giới Linux hôm nay

Ngày nay Linux thực sự đã trở thành một Thế giới, Thế giới Linux. Theo ước tính hiện có khoảng 14 triệu người đang sử dụng và nghiên cứu Linux (số liệu 6 - 2000) và có khoảng hơn 1 triệu Web Site trên Internet sử dụng Linux là nền làm việc của mình. Ðã ra đời rất nhiều công ty và tổ chức phi lợi nhuận có liên quan đến Linux. Ta hãy thử tiến hành các thao tác tìm kiếm đơn giản trên các Site nổi tiếng như Yahoo, Altavista hoặc Infoseek sẽ thấy ngay:

- Trên toàn hệ thống mạng Internet hiện có trên 11 triệu trang Web có keyword chứa từ Linux!.

- Hiện có khoảng trên 900 Web sites có tên (Domain name) chứa cụm từ Linux!

- Hiện có khoảng trên 300000 Web site có nội dung liên quan chặt chẽ với Linux!

Nếu chúng ta thực hiện một tìm kiếm tương tự nhưng đối với từ Windows 95, 98 hoặc 2000, chúng ta sẽ thấy ngay các số liệu sẽ thấp hơn từ 5 đến 100 lần so với Linux. Với tất cả các sai số cho phép của tính toán vẫn có thể khẳng định được rằng Linux đang là hệ điều hành phổ biến nhất hiện nay trên thế giới. Tính phổ biến của hệ điều hành này được thể hiện bởi số lượng người sử dụng, số lượng các chuyên gia Tin học đang quan tâm, nghiên cứu và phát triển nó, bởi sự tham gia rất đông đảo các cá nhân, công ty, tổ chức quốc tế đến sự phát triển của hệ điều hành này, bởi số lượng thật đông đảo các tạp chí, đặc san, chuyên san chuyên về Linux và các ứng dụng của chúng.

Một đặc điểm quan trọng nữa đối với Linux/GNU: đó là tính tổ chức chặt chẽ và hấp dẫn vô tận của nó. Do đặc tính "mã nguồn mở" và "tự do" của Linux trong khuôn khổ GNU, đã xuất hiện rất nhiều các tổ chức, công ty, hiệp hội, dự án, ... được thành lập chỉ với một mục đích duy nhất là cổ vũ và phát triển cho phong trào Linux. Ðiều này được thể hiện vô cùng rõ nét nếu chúng ta có dịp "dạo chơi" trên Internet. Chúng ta hãy hình dung ra một từ nào đó (tất nhiên là tiếng Anh) có nghĩa và có chứa, dù chỉ một phần từ Linux, và bạn hãy gõ tên đó, kết thúc bởi NET, ORG hoặc COM, trên trình duyệt Web, có thể khẳng định rằng ta sẽ tìm được một Web Site mới liên quan đến Linux! Ðiều này quả thật đã gây ấn tượng rất mạnh.

Chúng ta hãy thử tìm và ghép một từ có nghĩa bắt đầu từ Linux: Linuxdoc, LinuxOpen, LinuxCentral, LinuxProgramming, LinuxWorld, LinuxScource, LinuxDocumentation, LinuxComputing, LinuxNet, LinuxOpinion, LinuxResources, LinuxGuide, LinuxMagazine, LinuxOnline, LinuxBooks, LinuxOS, LinuxLib, LinuxLab, LinuxService vân vân và vân vân. Tôi có thể khẳng định với các bạn rằng tất cả những tên trên đều đã được đăng ký tên miền và là tên của một Web Site trên Internet!

Chúng tôi chỉ xin liệt kê ra ở đây một vài thông tin về các tổ chức, công ty, đơn vị tài trợ có liên quan đến Linux.

Hiện có khoảng gần 60 tổ chức và công ty đang thực hiện nhiệm vụ phân phối các sản phẩm hệ điều hành Linux. Trong số đó các công ty lớn gồm có Red Hat, Debian, Caldera, Corel, Mandrake, Slackware, S.u.S.E, ... Các công ty này đang đóng góp tích cực vào việc truyền bá và phân tán các phiên bản của Linux cho người sử dụng đầu cuối trên phạm vi toàn thế giới. Như đã trình bày ở trên, toàn bộ các công ty này bắt buộc phải tuân thủ các nguyên tắc của GPL và do đó các bản Linux mà họ bán ra sẽ phải có giá thành xấp xỉ phần đóng gói và một phần phí bảo hành. Một CD Linux bán ra như vậy sẽ có giá thành chỉ xấp xỉ 2 - 5 USD. Ðể xem đầy đủ và chi tiết về các công ty phân phối Linux này, xem thêm tại trang web sau http://www.linux.org/dist/english.html. Các dự án trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến Linux. Riêng các dự án phần mềm trực tiếp liên quan đến hệ điều hành Linux hiện có khoảng hơn 100 đang thực hiện trên phạm vi toàn thế giới trong tổng số gần 200 các dự án có liên quan đến Linux.

Các dự án này được đưa ra bởi các công ty, các viện nghiên cứu, trường học hoặc có thể do một vài cá nhân. Có thể liệt kê ra đây một vài dự án hay và quan trọng:

- Dự án Aardvark: Nghiên cứu và phát triển một hệ nhân quản trị dữ liệu phân tích trực tuyến (OLAP). Mục tiêu của dự án là xây dựng một nhân dữ liệu hỗ trợ OLAP/MOLAP/HOLAP đầu tiên với mã nguồn mở trên Linux. (xem thêm http://www.visionyze.com/products/technology/aardvark/)

- Dự án DOSEMU: Nghiên cứu khả năng tương thích của Linux với DOS, cho phép các ứng dụng của DOS được trên Linux. (xem http://www.dosemu.org)

- Dự án FlightGear: Nghiên cứu các chương trình mô phỏng 3 chiều trên Linux với công nghệ OpenGL/Mesa. (xem thêm http://www.flightgear.org)

- Dự án GIMP: nghiên cứu và phát triển các thư viện cho môi trường đồ họa X Window của Linux. (xem thêm http://www.gtk.org)

- Dự án GNOME: kiến tạo môi trường giao diện đồ họa chuẩn của Linux. (http://www.gnome.org)

- Dự án HA - High Availability Linux Project: nghiên cứu các giải pháp và thuật toán sử dụng môi trường tính toán song song trên Linux. (http://www.linux-ha.org)

- Dự án KBasic: mục đích: đưa ngôn ngữ lập trình Basic vào môi trường đồ họa của Linux. (http:// www.kbasic.de)

- Dự án KDE: thiết kế một môi trường giao diện đồ họa chuyên nghiệp trên Linux. (http://www.kde.org)

- Dự án Sinus Firewall: Phát triển các phần mềm mã nguồn mở dạng Firewall. Một địa chỉ tốt cho những người nghiên cứu về các vấn đề an toàn mạng trên Internet. (http://www.sinusfirewall.org)

- Dự án VWCL - Virtual Windows Class Library Project: Nghiên cứu và phát triển các lớp hàm (WineLib) cho môi trường lập trình Linux, tương tự như MFC của Microsoft. (http://www.vwcl.org)

- Dự án MOSIX: nghiên cứu và phát triển các phần mềm hỗ trợ cho clustering trên Linux. (http://www.mosic.org)

- Dự án Free Linux CD: mục đích của dự án này là cấp cho mọi công dân trên trái đất mỗi người một CD chứa hệ điều hành Linux. (http://www.freelinuxcd.org)

- Dự án LDP - Linux Documentation Project: Dự án này có nhiệm vụ phát triển hệ thống các tài liệu miễn phí liên quan đến Linux bao gồm các FAQ, HOWTO và các UserGuide cho Linux. (http://www.linuxdoc.org)

- Linux Advocacy Project: Dự án này có mục đích chính là khuyến khích và tuyên truyền cho các công ty phần mềm hỗ trợ và tham gia vào trào lưu Linux hóa trên qui mô toàn cầu. (http://www.10mb.com/linux/)

Các địa chỉ và Web site nổi tiếng của Linux gồm có:

Linux Online: www.linux.org
Linux International: www.li.org
Linux & Internet: www.internet.com
Linux Documentation Project: www.linuxdoc.org
Linux magazine: www.linux-mag.org
Red Hat Company: www.redhat.com
Linux Expo: www.linuxexpo.net

Không thể kể hết được hoặc đo được tầm vóc và qui mô của thế giới Linux hôm nay. Có thể hình dung một cách không phóng đại rằng Linux hôm nay chính là "phần bù" của Microsoft.

Có thể chia thế giới Linux hay các ứng dụng của Linux thành các nhóm sau đây:

- Các tổ chức, dự án hỗ trợ và phi lợi nhuận liên quan đến Linux

- Các Công ty thương mại phát triển hệ điều hành Linux

- Các Công ty thương mại phát triển các ứng dụng trên nền Linux

- Các viện nghiên cứu, các trường đại học phát triển Linux

- Các Công ty, Doanh nghiệp, Tổ chức đang sử dụng Linux như hệ điều hành hoặc ứng dụng.

Sự phát triển của Linux đã vượt qua tầm mắt của các chuyên gia công nghệ. Nhiều quốc gia đã thực sự tham gia vào cuộc chiến với Linux, điển hình nhất phải kể đến Trung quốc. Chính phủ Trung quốc đã chính thức công bố dự án phát triển một hệ điều hành riêng cho Trung quốc dựa trên Linux và đặt tên cho hệ điều hành này là Hồng Kỳ, tên tiếng Anh là Red Flag, một cải biên từ bản Red Hat. Dự án hệ điều hành Hồng Kỳ của Trung quốc được phát triển dựa trên sự hợp tác giữa Viện nghiên cứu phần mềm (SRI - Software Rechearch Institute) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung quốc (CAS - Chinese Academy of Science) và Trường đại học tổng hợp Bắc kinh. Phiên bản Red-Flag Linux 1.0 ra đời lần đầu tiên vào ngày 6-1-2000 đánh dấu một thời kỳ mới của Trung quốc nắm bắt và làm chủ được công nghệ hệ điều hành. Dự kiến bản Red-Flag Linux dành cho người sử dụng bình thường sẽ ra mắt công chúng vào giữa năm 2000. (Cho đến thời điểm 20-8 thì phiên bản này vẫn chưa được công bố). Sự kiện Trung quốc công bố về hệ điều hành và dự định sử dụng chúng trong toàn bộ các cơ quan chính phủ đã gây chú ý rộng rãi của dư luận trên toàn thế giới. Ðã có hơn 10000 trang Web trên thế giới bình luận và tranh cãi về sự kiện "Red Flag Linux" của Trung quốc. Bên cạnh Red-Flag, một công ty Linux khác là Turbo Linux đã bản địa hóa Linux và đã rất thành công trên thị trường hệ điều hành ở Trung quốc. Theo các số liệu mới nhất, số lượng sản phẩm bán ra trên thị trường Trung quốc trong quí 2 năm 2000 của Turbo Linux đã vượt lên trên Microsoft, một thông tin đáng để cho chúng ta quan tâm.

Theo đánh giá của nhiều nhà phân tích, việc chính phủ Trung quốc tuyên bố chính thức bắt buộc sử dụng Linux trong các cơ quan của nhà nước chỉ còn là vấn đề thời gian.

6. Linux Việt nam và GNU: Giải pháp và Sản phẩm?

Nhìn lại sự phát triển của Tin học Việt Nam, chúng ta thấy một điều đáng buồn rằng Việt Nam đã và đang hầu như nằm ngoài cả hai trào lưu UNIX hóa đã nói trên của thế giới. Chúng ta đã nằm ngoài trào lưu UNIX lần thứ nhất là điều dễ hiểu. Thời kỳ đó chúng ta đang có chiến tranh, đất nước còn chia cắt. Nhưng lần thứ hai này, khi trào lưu Linux/GNU đã phát triển được trên 7 năm, đã trở thành một xu thế không thể đảo ngược được trên thế giới, nhưng tại Việt nam sự hiểu biết cũng như nhu cầu tìm hiểu Linux hãy còn quá ít ỏi. Vì sao lại như vậy? Vì sao tại một nước láng giềng rất gần và giống chúng ta ở nhiều khía cạnh tâm lý, chính phủ và quốc gia đã vạch hướng phát triển chiến lược cho Linux đã 3 năm, còn chúng ta thì vẫn hoàn toàn im lặng? Vì sao sau những 15 năm đổi mới, chúng ta lại ngày càng tụt hậu hơn về công nghệ Tin học so với các nước xung quanh? Ðiều đáng buồn đó không hiểu các chuyên gia Tin học, các nhà hoạch định chính sách công nghệ Tin học Việt nam có suy nghĩ gì không? Liệu đến khi nào chúng ta mới thực sự vào cuộc? Một số suy nghĩ cá nhân về các vấn đề trên được trình bày trong phần cuối của bài viết này.

Bây giờ chúng ta quay trở lại với vấn đề Linux tại Việt nam, hay nói một cách chính xác hơn, về vai trò của Linux đối với công nghệ Tin học Việt nam nói riêng và nền kinh tế Việt nam nói chung.

Các câu hỏi sau được đặt ra một cách hiển nhiên: Việt nam chúng ta có cần đến Linux không? Chúng ta cần Linux ở mức độ nào? Linux có lợi và hại gì đến sự phát triển Tin học tại Việt nam? Nếu chúng ta cần Linux thì thời điểm nào là thích hợp để phát triển hệ điều hành này? Vai trò quản lý của chính phủ đối với Linux như thế nào?

Trong bài viết này tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết các vấn đề kỹ thuật của Linux, các đặc tính so sánh giữa Linux và các hệ điều hành khác. Có lẽ sẽ có một bài viết riêng phân tích và đi sâu về các tính năng kỹ thuật của hệ điều hành này.

1. Việt nam cần một hệ điều hành của riêng mình

Việt nam là một nước đông dân (đứng thứ 14 trên tổng số trên 200 quốc gia) trên thế giới và vẫn được coi là một quốc gia có hàm lượng chất xám cao. Nếu tình trạng yếu kém về kinh tế của chúng ta như hiện nay sẽ vẫn còn tiếp diễn trong tương lai thì không có gì phải bàn cãi nữa. Nhưng chẵng nhẽ chúng ta cam chịu như thế này mãi hay sao? Chúng ta có hay không tham vọng trở thành một quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh tương xứng với số dân mà chúng ta hiện có? Chúng ta có hay không ước muốn phát triển một ngành công nghệ Thông tin mạnh như nghị quyết 7/2000 của chính phủ mới ban hành? Nếu quả thật như vậy thì khẳng định sau cũng trở nên rõ ràng: Việt nam rất cần có một hệ điều hành của riêng mình.

Ngoài các nguyên nhân về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng sẽ được nêu ra dưới đây, tôi có một vài suy nghĩ sau liên quan đến nguyên nhân vì sao Việt nam chúng ta rất cần một hệ điều hành của riêng mình:

Trước hết, thời điểm hiện tại đang cho chúng ta một cơ hội "ngàn năm có một" để thực hiện được ước mơ làm chủ và có một hệ điều hành của riêng mình. Hiện tại phong trào Linux với mã nguồn mở đang phát triển rất nhanh, không thể định trước được những bước đi tương lai của chúng. Phiên bản hiện thời của Linux/GNU có dung lượng tổng cộng khoảng 300 MB mã nguồn, trong đó riêng nhân của Linux là 50MB. Ðó là một con số khổng lồ. Ðể hiểu rõ và làm chủ được hệ điều hành này chúng ta phải hiểu tường tận toàn bộ 300 MB mã nguồn này. Ðể hình dung cụ thể hơn, hãy thử làm một con tính đơn giản: để hiểu một dòng lệnh giả sử chi phí bỏ ra là 10 cent, vậy để hiểu được 300 MB tức khoảng 30 triệu dòng lệnh ta sẽ phải bỏ ra công sức bằng 300 triệu cent, nghĩa là 3000000 (3 triệu) USD. Mặc dù chúng lớn như vậy nhưng điều may mắn là chúng ta có thể lấy được chúng để tìm hiểu và nghiên cứu. Nếu như không có hệ thống mã nguồn này thì sẽ ra sao? Giả sử trào lưu mã nguồn mở không có hoặc Linux/GNU chấm dứt sự tồn tại của mình, khi đó cái giá phải trả cho việc có một hệ điều hành riêng sẽ cực kỳ tốn kém, thậm chí khó có thể hiện thực trong điều kiện kinh tế của nước ta.

Ðiều thứ hai, đó là xu thế tất yếu của nền kinh tế số hoá toàn cầu. Vai trò của các hệ điều hành máy tính sẽ trở nên thực sự quan trọng trong nền kinh tế số hóa đó. Có lẽ trong tương lai không xa, không chỉ có các nước lớn, mà tất cả các quốc gia đều sẽ phải có hệ điều hành riêng. Có như vậy, các quốc gia mới có thể thực sự tham gia vào quá trình toàn cầu hóa và an tâm về tính an toàn của các thông tin nội bộ của mình. Các quốc gia có ý tưởng sớm về điều này sẽ không bị ngỡ ngàng và bị động trong tương lai.

Thứ ba, trong 10 năm trở lại đây, chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc chuẩn hóa bảng mã tiếng Việt (và bộ gõ) trên máy tính. Tuy nhiên kết quả đã không đạt được như mong muốn. Một trong những khó khăn của việc chuẩn hóa là chúng ta luôn bị động vào các công nghệ mới và phần mềm mới của nước ngoài. Hiện tại phiên bản Windows 2000 đã có những xung khắc lớn đối với cả hai bộ mã mà người Việt nam đang sử dụng nhiều nhất là TCVN và VNI. Nếu chúng ta tiếp tục chỉ sử dụng Windows và không có sự lựa chọn nào khác thì không hiểu những nảy sinh tiếp theo trong tương lai sẽ được giải quyết như thế nào. Ngay vấn đề không hiện được chữ "ư" trong IE5 cho đến giờ phút này chưa có một cách giải quyết nào triệt để. Chỉ bằng con đường sửa trực tiếp vào mã nguồn của hệ điều hành mới có thể giải quyết triệt để bài toán tiếng Việt trên máy tính. Hy vọng với Linux sẽ không có tình trạng "lộn xộn" khi sử dụng tiếng Việt như hiện nay.

2. Linux và vấn đề đào tạo nhân lực CNTT

Linux với mã nguồn mở, hoàn toàn miễn phí và đang được thừa nhận là hệ điều hành phổ biến nhất, nhanh nhất, an toàn nhất và công nghệ hiện đại nhất hiện nay.

Việc đưa Linux vào nghiên cứu và giảng dạy đã trở thành hầu như hiển nhiên và bắt buộc tại hầu hết các trường đại học công nghệ trên thế giới. Chúng ta không thể có Linux ngày hôm nay nếu UNIX không được toàn thế giới nghiên cứu và phát triển nó trong những năm đầu của thập kỷ 70. Việc đưa Linux vào giảng dậy và nghiên cứu trong các trường đại học sẽ có một ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đào tạo nhân lực và chuyên gia CNTT cho đất nước. Nếu chúng ta muốn có một đội ngũ chuyên gia công nghệ thông tin đích thực của 30 năm sau thì ngay bây giờ cần phải đưa Linux vào giảng đường đại học càng nhanh càng tốt.

3. Các lợi thế An ninh, Kinh tế, Quốc phòng

Các lợi thế về An ninh, Quốc phòng của việc sử dụng một hệ điều hành riêng đối với đất nước có lẽ không cần phải bàn luận gì thêm, nhưng ý nghĩa của việc đưa một hệ điều hành "miễn phí" vào sử dụng sẽ mang lại lợi ích kinh tế to lớn như thế nào cho đất nước thì không phải ai cũng nhận thức được và thấu hiểu. Ðiều nguy hiểm nhất hiện nay là chúng ta (hầu như tất cả, không trừ một ai!) đều đã quá quen với việc sử dụng các phần mềm có bản quyền nhưng với giá bằng 0. Cái giá mà đất nước sẽ phải trả cho thói quen này là vô cùng to lớn. Ðến một ngày nào đó chúng ta sẽ bị truy thu những gì mà chúng ta đã "xài" trong suốt thời gian từ cách đây 10 năm (khi Tin học bắt đầu có tại Việt nam) và sẽ phải trả tiền cho mỗi phần mềm đang và sẽ sử dụng. Chỉ cần làm một con tính đơn giản cũng thấy cái giá đó khủng khiếp như thế nào.

Và tất nhiên Linux là chìa khóa duy nhất cho phép chúng ta tìm được lối thoát của tình trạng trên.

4. Linux và Microsoft

Một trong các lý do cơ bản của việc cần tiến hành nghiên cứu và phát triển Linux tại Việt nam là sự độc quyền "mặc định" của các hệ điều hành của Microsoft. Do nhiều nguyên nhân khách quan, trên 95% các máy tính gia đình và công sở của Việt nam đều sử dụng hệ điều hành của Microsoft. Nếu thực tế này còn tiếp diễn thì sẽ dẫn đến một hậu quả khôn lường: toàn bộ nền kinh tế Tin học của chúng ta sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào một công ty Tin học nước ngoài. Ðiều nguy hiểm ở đây là chữ "một", chúng ta sẽ không có sự lựa chọn. Linux chính là sự lựa chọn thứ hai của chúng ta. Với Linux, sự lựa chọn sẽ rất an tâm nếu như đó là một hệ điều hành Linux của Việt nam. Việc đưa Linux như một sự lựa chọn thứ hai bên cạnh Microsoft sẽ có một ý nghĩa rất lớn. Có thể, ví dụ, nó sẽ là một tác động để giá bán của Windows tại Việt nam sẽ thực sự giảm so với hiện nay.

5. Linux: Sản phẩm và Giải pháp

Hiện tại đa số các ứng dụng của Linux nằm trên các máy chủ và đều dành cho các chuyên gia. Ðịnh hướng phát triển Sản phẩm và Giải pháp ứng dụng của Linux có thể theo sơ đồ sau:

- Trước tiên khuyến khích việc áp dụng Linux trong các máy chủ lớn tại các cơ quan, hội sở và doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các ISP và ICP. Các ứng dụng chủ yếu của Linux bao gồm Web server, Access server, Router, Firewall, Internet workstation, Application server.

- Khuyến khích sử dụng, học tập, làm việc và nghiên cứu Linux trong các trường đại học, các trung tâm, viện nghiên cứu khoa học. Về huớng phát triển này chúng ta có rất nhiều thuân lợi bởi hiện tại có hàng ngàn trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới đang phát triển Linux.

- Khuyến khích việc sử dụng và phát triển các ứng dụng trên Linux cho mọi đối tượng. Với gần 60 phiên bản Linux khác nhau hiện đang có trên thế giới, chúng ta có một sự lựa chọn lớn cho các ứng dụng đa dạng khác nhau trên hệ điều hành này.

Hiện nay một số công ty phân phối Linux đang rất tích cực cho việc bản địa hóa tiếng Việt, một trong chúng là Mandrake Linux, một trong các nhà phân phối lớn của Linux (đứng thứ 3 thế giới).

- Tập trung phát triển các giải pháp cơ bản liên quan đến tiếng Việt trên Linux, tiến tới thiết lập và làm chủ Linux, tạo ra các sản phẩm là hệ điều hành Linux riêng của Việt nam.

- Cùng với thế giới, nghiên cứu và phát triển Linux theo hướng thân thiện hoá dành cho người sử dụng đầu cuối.

- Nhà nước có chính sách hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp phát triển Linux và các ứng dụng của chúng theo nguyên tắc GNU.

- Về định hướng sản phẩm Linux Việt nam, theo tôi, nên tập trung vào các hướng phát triển sau đây (xếp theo thứ tự ưu tiên):

1. Họ sản phẩm Linux cho các cơ quan, doanh nghiệp, trường học, công sở.

Yêu cầu chủ yếu bao gồm tiếng Việt, các phần mềm văn phòng (văn bản, bảng tính, đồ họa, CSDL), kết nối Internet, các công cụ lập trình cơ bản (C, Pascal, Fortran, ...)

2. Họ sản phẩn Linux dành cho gia đình. Các yêu cầu chủ yếu bao gồm kết

nối Internet, công cụ multimedia, trò chơi, phần mềm học tập và giải trí, phần mềm văn phòng.

3. Họ sản phẩm Linux dành cho máy chủ. Các ứng dụng chủ yếu bao gồm

Internet server, http, ftp, mail server, firewall, routing, CSDL lớn, access server.

4. Cuối cùng là các sản phẩm đặc thù và chuyên sâu như GIS, CAD/CAM,

Thiết kế và tính toán công nghiệp, Xuất bản, CSDL chuyên nghiệp, ...

Chú ý: Cần phân biệt trong tương lai các sản phẩm phần mềm trên Linux theo chuẩn GNU hoặc không GNU.

6. Linux và nội lực Việt nam

Như đã trình bày ở trên, nếu như Việt nam có thể làm được một hệ điều hành của riêng mình, có nghĩa là chúng ta sẽ làm chủ được nền tảng cơ bản nhất của công nghệ thông tin. Sự cần thiết của Linux và Linux Việt nam đã được khẳng định. Vấn đề đặt ra hiện nay là Chúng ta có làm được hay không? Khi nào cần làm? Cần làm những gì? và Cách thực hiện như thế nào?

Chúng ta có làm được Linux Việt nam hay không?

Câu hỏi đặt ra hoàn toàn đúng đắn. Chúng ta nói nhiều đến Trí tuệ Việt nam, chất xám Việt nam, nội lực Việt nam, nhưng có thể chúng ta sẽ không bao giờ có một hệ điều hành máy tính của Việt nam. Ðể biến bộ mã nguồn hiện có của Linux/GNU thành một hệ điều hành "Linux Việt nam" đòi hỏi một sự làm việc vô cùng gian khổ, quên mình, tâm huyết và sáng tạo. Vấn đề ở đây không phải chỉ là "tiền", vì nếu chỉ lấy tiền để tạo ra "Linux Việt nam" thì, thứ nhất, chúng ta sẽ không bao giờ có đủ tiền để làm việc này và thứ hai, sản phẩm chỉ vì tiền sẽ không thể là một sản phẩm với độ tin cậy và chất lượng cao. Câu trả lời cho câu hỏi trên dành cho các chuyên gia Tin học trẻ của Việt nam. Hoàn toàn tin tưởng rằng tất cả các bạn trẻ sẽ đồng thanh trả lời có.

Khi nào cần thiết phải làm?

Không thể có một câu trả lời nào khác ngoài "phải làm ngay từ bây giờ!". Bắt đầu từ bây giờ cũng đã là muộn. Nhưng muộn còn hơn là không bao giờ. Cơ hội vẫn đang còn và theo thời gian thách thức của chúng ta sẽ ngày càng lớn hơn. Hôm nay là 300 MB mã nguồn, có thể trong nay mai, con số này sẽ tăng lên gấp đôi và còn hơn thế nữa.

Cần làm những gì?

Theo tôi, có 3 việc tối thiểu và bắt buộc phải làm vì chúng đều là tối quan trọng với vấn đề đang đặt ra:

1- Trước hết và đầu tiên, Linux Việt nam sẽ không bao giờ có và phát triển nếu Internet của Việt nam không phát triển. Mở rộng và phát triển Internet, cải thiện tình trạng hiện thời của Internet Việt nam là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của Công nghệ thông tin Việt nam, trong đó có Linux.

2- Nhà nước quan tâm, hỗ trợ và đầu tư ban đầu. Hiện tại Việt nam chúng ta còn nghèo, vốn hầu hết nằm trong tay nhà nước, do đó sự quan tâm, hỗ trợ và đầu tư ban đầu của nhà nước cho các công việc lớn là rất quan trọng. Chúng đóng vai trò là những cú "hích" ban đầu. Sau khi đã có đà, các công ty, đơn vị sẽ tự phát triển.

3- Cần phát động phong trào "Linux hóa" rộng khắp trong các lĩnh vực liên quan đến Công nghệ thông tin, đặc biệt trong các trường đại học. Cần đưa ngay Linux vào chương trình học bắt buộc trong các khoa CNTT trên phạm vi cả nước. Cần tuyên truyền, cổ động và phân tích những lợi thế và ích lợi do Linux mang lại cho Công nghệ thông tin nói riêng và kinh tế Việt nam nói chung.

Cách thực hiện như thế nào?

Về khái niệm "đưa Linux vào Việt nam" thực tế bao gồm hai quá trình hoàn toàn đối lập và khác nhau: (1) Nhập các phiên bản thương mại Linux hiện có trên thế giới vào Việt nam và (2) Viết các họ sản phẩm "Linux Việt nam". Cả hai khuynh hướng trên đều mang lại các lợi ích rõ rệt cho nền kinh tế Việt nam, giảm nhẹ đối trọng đối với Microsoft Windows. Bài viết này định hướng độc giả đến khuynh hướng thứ hai. Con đường đi của Linux Việt nam còn đang nằm ở phía trước, Sù còn gặp nhiều trở ngại, chông gai. Ngay từ bây giờ chưa ai có thể nói trước được điều gì. Tuy nhiên điều mà tôi thấy rõ nhất là những thử thách to lớn của nội lực công nghệ tin học Việt nam. Chúng ta đã mất trên 10 năm mà không thể giải quyết được triệt để bài toán tiếng Việt trên máy tính (mặc dù nhà nước đã bỏ ra khá nhiều tiền của), hậu quả trầm trọng của nó giờ đây ai cũng thấy rõ. Bây giờ đến lượt bài toán Linux. Liệu chúng ta có lặp lại những "khó khăn" và "sai lầm" như đối với tiếng Việt hay không? Nên nhớ rằng bài toán "Linux Việt nam" có qui mô và tầm cỡ lớn gấp nhiều lần so với bài toán "tiếng Việt trên máy tính".

7. Một số vấn đề với Linux/GNU

Tuy nhiên không phải mọi vấn đề đối với Linux đều thuận buồm xuôi gió như chúng ta suy nghĩ.

- Các ràng buộc chặt chẽ của luật Bản quyền Sở hữu Công cộng GPL mà chúng ta bắt buộc phải tuân theo sẽ gây ra những khó khăn nhất định cho việc phát triển Linux và các ứng dụng của chúng. Các công ty phát triển hệ điều hành Linux tại Việt nam sẽ phải tuân thủ toàn bộ các điều kiện của GPL/GNU. Như vậy giá của một hệ điều hành Linux Việt nam (đóng gói trên một vài CD) sẽ chỉ được dao động trong khoảng từ 5 - 30 USD. Ðể các công ty này phát triển được thị trường phải rất lớn, điều này rất ít hiện thực tại Việt nam.

- Các ứng dụng mã nguồn mở phát triển trên Linux hiện nay rất đa dạng, tuy nhiên vẫn thiếu vắng những phần mềm có tính chuyên nghiệp cao.

Một điều rất may mắn cho cộng đồng Linux là vào ngày 19-8-2000, Sun Microsystem đã tuyên bố sẽ đưa bộ Star Office vào chuẩn GPL/Linux/GNU. Mã nguồn mở của Star Office sẽ được công bố trên mạng vào ngày 13-10-2000.

Ðây thực sự là một thông tin tốt lành vì Star Office là bộ phần mềm chuyên nghiệp có chất lượng cao đầu tiên gia nhập cộng đồng mã nguồn mở GNU. (Trước đó Netscape cũng công bố mã nguồn mở cho trình duyệt của mình nhưng không phải GNU/GPL). Toàn bộ thông tin về Star Office có thể tham khảo từ địa chỉ http://www.openoffice.org. Hy vọng rằng Việt nam chúng ta trong tương lai sẽ có một bộ phần mềm văn phòng của Việt nam hoàn toàn việt hóa và cạnh tranh được với Microsoft Office.

- Hiện tại đang có nhiều môi trường đồ họa trên Linux, trong số đó nổi tiếng nhất là GNOME và KDE. Ðể có thể thực sự phát triển các ứng dụng đồ họa cạnh tranh với Microsoft cần có một môi trường chuẩn đồ họa với các công cụ lập trình mạnh. Hiện tại thế giới Linux đang nỗ lực theo hướng phát triển này.

Tại triển lãm LinuxWorld Expo 2000 vừa qua được tổ chức tại SAN JOSE, Mỹ từ ngày 15 đến ngày 17 tháng 8, một số các công ty lớn như IBM, HP, Compaq, Eazel, Redhat, Sun Microsystem, Turbo Linux, VA Linux, Quĩ FSF (của GNU) đã tuyên bố ủng hộ cho Quĩ GNOME để GNOME trở thành chuẩn cho giao diện đồ họa trên Linux. Quyết định này là một bước tiến lớn của việc đưa Linux đến gần hơn với người sử dụng bình thường. Như vậy cùng với việc Star Office tham gia GPL/GNU, quyết định trên tạo cho chúng ta một vững tin lớn hơn trong việc tạo ra một hệ điều hành Linux cho mọi gia đình, mọi PC.

- Một trong những vấn đề nan giải nhất của việc đưa Linux đến mọi PC là hiện tại Linux vẫn còn là hệ điều hành "cho các chuyên gia" và tương đối khó sử dụng. Hy vọng rằng trong một tương lai gần Linux sẽ ngày càng trở nên thân thiện hơn đối với tất cả mọi người.

8. Linux và Internet: Hai thái cực

Một vấn đề Như đã trình bày trong các phần trên của bài viết này, sự phát triển của Linux gắn liền với sự phát triển của Internet. Nếu không có Internet, chắc chắn chúng ta không thể có Linux hôm nay. Mặt khác, với trên 1 triệu Web Site trên Internet (khoảng 40%) có máy chủ sử dụng Linux, có thể nói rằng Công nghệ của Internet ngày nay gắn liền và không thể tách rời khỏi Linux. Sự gắn kết giữa Linux và Internet đã quá rõ ràng, vậy thì vì sao lại nói rằng chúng là "Hai thái cực, Một vấn đề", điều tôi muốn đưa ra ở đây chỉ là một suy nghĩ nhỏ và chỉ liên quan đến Việt nam chúng ta.

Các đặc điểm "giống nhau" giữa Linux và Internet

Trước hết phải thấy rằng Linux và Internet đều có những đặc điểm chung rất đặc biệt sau đây:

1. Linux và Internet đều là những sản phẩm công nghệ không phải của một cá nhân, một tổ chức hay công ty, mà là của một cộng đồng các chuyên gia lớn có qui mô rộng khắp trên thế giới. Sức mạnh công nghệ của Linux và Internet, chắc các bạn đã thấy rõ, là sức mạnh của một tập thể lớn và phát triển rất nhanh với một tốc độ chóng mặt. Hầu hết các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ tin học đều có nhận xét rằng chỉ sau một vài tháng, lượng thông tin và sức mạnh của Internet (hay Linux) sẽ lại tăng gấp đôi. Không thể có một ngành công nghiệp nào khác có được sự tăng trưởng như đối với Linux và Internet được.

2. Linux và Internet đều là những sản phẩm với công nghệ cao nhất của Tin học hiện đại. Hay có thể nói, Linux và Internet là đỉnh cao nhất của các công nghệ Tin học vì nó kết hợp được toàn bộ sức mạnh về trí tuệ và công nghệ của một tập thể lớn các chuyên gia đầu ngành trên thế giới. Rất nhiều các phát minh công nghệ mới bắt nguồn từ Internet và Linux.

3. Linux và Internet đều là những mô hình của sự phát triển mở, tự do, không nằm trong sự quản lý ép buộc của bất cứ cơ quan, công ty hay chính phủ nào. Như chúng ta đều biết, lịch sử phát triển của Internet gắn liền với quá trình hình thành các chuẩn công nghệ thông qua các tài liệu RFC (Request For Comments). Các tài liệu RFC này được truy nhập, tải xuống, chỉnh sửa và đưa lên hoàn toàn tự do, miễn phí. Thông qua hệ thống RFC, hàng ngàn các nhà khoa học, các chuyên gia công nghệ đã góp phần thực sự của mình vào sự phát triển của công nghệ Internet.

Mô hình phát triển của Internet với RFC thực sự để chúng ta suy ngẫm và nhìn rõ hơn quá trình phát triển của một "thần kỳ" công nghệ của loài người trong thế kỷ 20. Tương tự như vậy, Linux đang trải qua sự phát triển hoàn toàn giống như Internet cách đây 30 năm nhưng với một qui mô rộng lớn hơn và phạm vi bao gồm cả công nghệ và mã chương trình mở. Ðiểm khác biệt duy nhất giữa Internet và Linux: Internet chỉ là "công nghệ mở", còn Linux thì cả "công nghệ mở" và "mã nguồn mở".

4. Một đặc điểm chung nữa rất thú vị giữa Linux và Internet là ở chỗ cả hai công nghệ này đều phát triển ban đầu từ những nhà khoa học hoặc các chuyên gia hẹp và theo thời gian chúng phát triển, phát triển và bùng nổ cho mọi đối tượng người sử dụng. Qui luật này cũng dễ hiểu khi chúng ta nhìn lại suốt quá trình hình thành và phát triển của chúng. Internet được nghiên cứu và phát triển lần đầu tiên vào năm 1969, nhưng phải tới những năm 1994, 1995 nó mới thực sự bùng nổ và phát triển với qui mô như hiện nay. Còn Linux .... chúng ta sẽ đợi đến ngày phát triển thực sự của nó đến từng gia đình, phòng làm việc và đến từng máy tính.

5. Ðặc điểm cuối cùng và là đặc trưng nổi bật nhất của Linux và Internet là ở tính "miễn phí" hay "hầu như không phí" của chúng. Thật vậy khoảng hơn 95% thông tin trên Internet là miễn phí. Có lẽ không thể đánh giá được cái giá mà chúng ta thụ hưởng được từ Internet và Linux.

Linux và Internet cho chúng ta cái gì?

Vậy thì Internet và Linux cho chúng ta những gì?

1- Trước hết Linux và Internet cho phép chúng ta có thể tiếp cận trực tiếp với những công nghệ Tin học hiện đại nhất trên thế giới hiện nay, hoàn toàn kịp thời và không chậm trễ theo thời gian. Việc tiếp cận này không chỉ ở mức độ tìm hiểu, mà còn có khả năng nắm bắt, điều chỉnh và làm chủ hoàn toàn công nghệ. Làm chủ các công nghệ này là một đảm bảo chắc chắn cho việc không bị tụt hậu về công nghệ so với thế giới như trong các thời gian trước đây của chúng ta.

2- Linux và Internet hoàn toàn miễn phí. Với những đỉnh cao của công nghệ như đã nói ở trên, đúng ra chúng ta sẽ phải trả các khoản chi phí rất lớn để có chúng. Vấn đề đặt ra hoàn toàn tương tự như với các thiết bị công nghệ sản xuất và tiêu dùng mà chúng ta đã và đang bắt buộc phải bỏ tiền ra để có chúng hay vấn đề sở hữu trí tuệ phần mềm mà trước sau chúng ta cũng phải tuân thủ theo chuẩn mực quốc tế. Ðây là một thời cơ và là thuận lợi có một không hai đối với chúng ta. Chỉ cần chậm trễ một nhịp, chỉ cần một quyết sách không dứt khoát, đúng đắn có thể sẽ đưa đất nước của chúng ta lùi xa và tụt hậu hàng chục năm so với thế giới.

3- Linux và Internet cho phép chúng ta học tập, làm quen và tiếp cận trực tiếp với những chuyên gia số một trên thế giới về công nghệ thông tin, khả năng trao đổi thông tin, liên kết, khả năng tham gia trực tiếp của đội ngũ chuyên gia Tin học của Việt nam vào những diễn đàn, hội thảo, triễn lãm quốc tế.

4- Có thể nói công nghệ của Internet và Linux là kết tinh của trí tuệ loài người trong suốt quá trình tồn tại và phát triển. Không phải chỉ có 30 năm nghiên cứu của Internet và 7 năm phát triển của Linux, mà thực chất chúng là những tinh hoa công nghệ được đúc kết qua rất rất nhiều thế hệ, là kết quả của cả một lịch sử phát triển khoa học công nghệ của xã hội con người. Khoa học và Công nghệ là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội và Internet và Linux đóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triển đó.

5- Internet đóng vai trò nền tảng, cơ sở hạ tầng của xã hội thông tin, Linux là hệ điều hành, là cái lõi của mọi máy tính dùng để truy nhập xã hội thông tin đó. Do vậy Internet và Linux đã cho chúng ta những công nghệ nền tảng nhất của Công nghệ thông tin trong tương lai. Nắm bắt được các công nghệ này, chúng ta mới thực sự làm chủ được công nghệ thông tin của chính chúng ta và không bị phụ thuộc vào các nước khác.

Hiện tại tình trạng phát triển Internet và Linux tại Việt nam ra sao? Vì sao lại là "Hai thái cực"?

Vì sao lại là "Hai thái cực"

Thật vậy:

1- Trước hết, chúng ta nhìn thấy rất rõ nét cộng đồng người Việt nam nói chung và Công nghệ Thông tin nói riêng rất hào hứng và có nhu cầu thực sự tham gia Internet, trong khi đó Linux thì ... không! Có thể đếm trên đầu ngón tay những trung tâm hay cơ sở nghiên cứu chuyên sâu về Linux tại Việt nam. Quả thật là khó hiểu khi phải lý giải điều này.

2- Trong khi Linux bị "bỏ rơi" tại Việt nam thì Internet lại được quan tâm một cách thái quá ... đến mức ta có cảm tưởng rằng mọi ngả thông tin thông ra Internet đều được kiểm soát chặt chẽ. Ngày nay, chuyện "dạo chơi" trên Internet hầu như chỉ còn là trong mơ. Ta luôn cảm thấy sự chật trội, chen chúc, ách tắc thường xuyên xảy ra trên Internet và có rất nhiều cổng bị khóa trái lại không cho vào!

3- Hãy xét về giá cả. Linux - hoàn toàn miễn phí, trong khi đó giá sử dụng Internet tại Việt nam thì quá cao đến mức không thể chấp nhận được. Cùng với sự chậm, ách tắc thường xuyên xảy ra trên mạng, mức giá Internet hiện nay là vật cản chủ yếu của sự tăng trưởng Internet tại Việt nam.

4- Các phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo chí, truyền hình) của chúng ta thời gian gần đây đã nói rất nhiều đến Internet (còn Linux thì chưa). Chúng ta nói nhiều đến các dịch vụ thương mại điện tử, đến những công nghệ tân kỳ mới nhất, đến những vụ sì căng đan virus, những câu chuyện giật gân trên Internet, ... tuy nhiên chúng ta chưa hoặc rất ít nói đến những ích lợi chủ yếu mà Internet hay Linux có thể mang lại cho đất nước và con người chúng ta. Ðó là tính miễn phí của các hầu hết toàn bộ thông tin có trên Internet, là ích lợi của việc trao đổi thông tin trực tiếp với các chuyên gia nước ngoài, là sự tiếp cận với hàng ngàn kho dữ liệu thông tin khoa học, sách, báo, tạp chí trực tuyến trên Internet, là khả năng tham gia trực tiếp vào các đề án nghiên cứu khoa học, khả năng phát hiện, đóng góp chất xám của người Việt nam, đặc biệt là thế hệ trẻ vào guồng máy phát triển công nghệ như vũ bão trên thế giới, là khả năng học hỏi, học tập, tham gia vào hàng ngàn chương trình đào tạo miễn phí hoặc phí thấp của các trường đại học, các viện nghiên cứu trên khắp thế giới. Có thể nói rằng Internet là phương tiện duy nhất có khả năng làm giảm khoảng cách tụt hậu về công nghệ giữa chúng ta và thế giới.

Và "Một vấn đề"

Linux và Internet tại Việt nam đang là "Hai thái cực" của "Một vấn đề". Vậy thì đó là vấn đề gì vậy?

Câu trả lời rất đơn giản.

Linux và Internet chính là chiếc gương phản chiếu, hay thước đo cho Một vấn đề, đó là khả năng, nội lực công nghệ Tin học của một quốc gia. Hãy nhìn vào sự phát triển của Internet và Linux của một đất nước, ta sẽ hiểu được tiềm năng thực sự của quốc gia đó.

Chúng ta hãy thử nhìn vào chính bản thân mình. Hãy tìm một so sánh đơn giản với đất nước Trung quốc là một quốc gia có nhiều điểm chung đối với chúng ta. Trung quốc hiện có khoảng 20 triệu thuê bao Internet, so với khoảng 100000 thuê bao của Việt nam. Những con số đó nói lên điều gì? Ðất nước Trung quốc có số dân gấp 20 lần Việt nam nhưng số người dùng Internet lại gấp 200 lần Việt nam! Trung quốc có mức thu nhập bình quân đầu người gấp 3 lần Việt nam, nhưng tỷ lệ sử dụng Internet lại gấp 20 lần Việt nam!. Về Linux, Trung quốc cũng đã đi trước Việt nam chúng ta tối thiểu là 3,5 năm. Nếu như tính bình quân, công nghệ Tin học sau mỗi 6 tháng tăng gấp đôi lượng thông tin thì như vậy Trung quốc đang ở phía trước của chúng ta khoảng 2 x 2 x 2 x 2 x 2 x 2 x 2 = 128 lần! Vấn đề đã trở nên rõ ràng. Cần phải giải quyết càng sớm càng tốt chuyện "Hai thái cực" và phát huy nội lực tối đa cho "Một vấn đề".

Thời cơ chúng ta đang có và nguy cơ tụt hậu cũng đang có rất nhiều. Chúng ta sẽ chọn cái gì? để đạt cái gì và mất cái gì? Theo tôi tất cả chỉ phụ thuộc vào chính chúng ta mà thôi.